Tổng quan về bắc giang » Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2015
Ngày đăng: 23/12/2015

Năm 2015, tỉnh Bắc Giang thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) trong bối cảnh thuận lợi, khó khăn đan xen. Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã chủ động giao chỉ tiêu kế hoạch, đề ra những nhiệm vụ giải pháp trọng tâm, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra, do đó, KT-XH của tỉnh tiếp tục phát triển và đạt được những kết quả khá tích cực; hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch.

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) ước đạt 9,6%, vượt 0,1% so với kế hoạch, trong đó, nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5%; CN-XD tăng 14,1%; dịch vụ tăng 7,4%. Cơ cấu kinh tế ngành CN-XD chiếm 41,6%, dịch vụ chiếm 34,8% và ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,6%. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục tiến bộ, đời sống nhân dân ổn định và từng bước được nâng lên; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

I. Lĩnh vực sản xuất, phát triển kinh tế

1. Sản xuất công nghiệp

- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 13,5%, giá trị sản xuất công nghiệp (giá hiện hành) ước đạt 56.460 tỷ đồng, bằng 96,3% kế hoạch, tăng 17,8% so với năm 2014. Trong đó khu vực nhà nước đạt 4.460 tỷ đồng, bằng 80,1% kế hoạch, tăng 6,1%; khu vực ngoài quốc doanh đạt 14.040 tỷ đổng, bằng 109,3% kế hoạch, tăng 11,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 37.960 tỷ đồng, bằng 94,3% kế hoạch, tăng 21,9% so với năm 2014.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

- Về trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 175.810 ha, bằng 99,5% năm 2014; năng suất các loại cây trồng tiếp tục được nâng lên. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 670 nghìn tấn, đạt 103,8% kế hoạch, tăng 0,5% so với năm 2014; trong đó sản lượng thóc đạt 630 nghìn tấn. Vải thiều được mùa, sản lượng đạt 190.000 tấn quả tươi.

- Về chăn nuôi: Tổng đàn vật nuôi tăng, sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 215 nghìn tấn, tăng 2,6% tăng so với năm 2014. Đàn trâu 57,5 nghìn con, giảm 3,4%; đàn bò 134 nghìn con, tăng 2,7%; đàn lợn 1,24 triệu con (đứng thứ 3 toàn quốc) tăng 2,4%; đàn gia cầm có 16,84 triệu con, tăng 2,9%, trong đó đàn gà đạt 14,64 triệu con, tăng 2,9% so với năm 2014.

- Về sản xuất lâm nghiệp: Toàn tỉnh đã trồng được 7.570 ha rừng, bằng 151,3% kế hoạch, trong đó rừng phòng hộ và đặc dụng 141 ha, bằng 94%, rừng sản xuất 7.426 ha, đạt 153,1% kế hoạch. Công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng được tăng cường; tình trạng vi phạm về pháp luật bảo vệ rừng giảm so với năm 2014.

- Về sản xuất thủy sản: Sản xuất thủy sản phát triển ổn định, diện tích nuôi duy trì trên 12.200 ha (diện tích thâm canh cao 1.280 ha, chuyên canh 5.250 ha), sản lượng thu hoạch cá thương phẩm ước đạt 30.500 tấn, đạt 101,7% kế hoạch, tăng 3,4% so với cùng kỳ.

- Chương trình mục tiêu Quốc gia XDNTM: Ước đến hết năm số tiêu chí nông thôn mới bình quân đạt 12,7 tiêu chí/xã, tăng 1,2 tiêu chí so với năm 2014; tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn là 34 xã, tăng 01 xã so với kế hoạch, đạt tỷ lệ 16,8%.

3. Hoạt động thương mại, dịch vụ

Giá trị sản xuất ước đạt 27.285 tỷ đồng, đạt 104% kế hoạch, tăng 24,8% so với năm 2014. Cụ thể:

3.1. Thương mại, giá cả, xuất, nhập khẩu

- Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ năm 2015 ước đạt 16.810 tỷ đồng, tăng 9,8% so cùng kỳ, bằng 97,7% kế hoạch.

- Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 2.460 triệu USD, bằng 94,2% kế hoạch, tăng 16,8% so với năm 2014; nhập khẩu ước đạt 2.510 triệu USD, tăng 13% so với cùng kỳ, bằng 94,6% so kế hoạch. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu không đạt kế hoạch song một số mặt hàng xuất khẩu vẫn có mức tăng khá so với năm 2014 như: Hàng dệt, may đạt 1.010 triệu USD, tăng 19%; máy tính và phụ kiện đạt 670 triệu USD, tăng 22,4%... riêng mặt hàng điện tử chỉ đạt 490 triệu USD, bằng 87,9% kế hoạch.

3.2. Tài chính, ngân hàng

- Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt kết quả khá, ước đạt 3.485 tỷ đồng, vượt 11,2% dự toán, bằng 95,6% cùng kỳ; trong đó thu nội địa ước đạt 2.805 tỷ đồng, đạt 110,6% dự toán, bằng 96,8% so với năm 2014.

- Tổng chi ngân sách trên địa bàn ước đạt 10.425 tỷ đồng, bằng 118,7% dự toán, tăng 3,9% so với cùng kỳ; trong đó chi thường xuyên đạt 7.536 tỷ đồng, tăng 2,8% so với năm 2014.

- Ước đến 31/12/2015, tổng nguồn vốn huy động đạt 24.512 tỷ đồng, tăng 21%; dư nợ tín dụng ước đạt 25.070 tỷ đồng, tăng 16% so với 31/12/2014.

3.3. Giao thông vận tải và bưu chính viễn thông

- Dịch vụ giao thông vận tải tiếp tục phát triển. Hạ tầng giao thông được đầu tư, duy tu, bảo dưỡng. Khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 24,8 triệu lượt người, tăng 4,2%; vận chuyển hàng hóa đạt 18,6 triệu tấn, tăng 11,4% so với năm 2014.

- Dịch vụ bưu chính, viễn thông, thông tin liên lạc đảm bảo thông suốt. Toàn tỉnh có 949 trạm BTS, tăng 8% so với năm 2014; 100% các xã, phường, thị trấn đã được phủ sóng thông tin di động, truy cập được Internet tốc độ cao. Doanh thu Bưu chính, viễn thông ước đạt 1.590 tỷ đồng, tăng 0,7%, nộp ngân sách nhà nước 120 tỷ đồng, tăng 0,2% so với năm 2014.

4. Đầu tư phát triển

- Tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt trên 30 nghìn tỷ đồng, bằng 101% kế hoạch, tăng 20,2% so với năm 2014; trong đó, vốn đầu tư khu vực dân cư 13.415 tỷ đồng tăng 23,8%; vốn đầu tư của các doanh nghiệp đạt 8.080 tỷ đồng, tăng 45,2%; vốn đầu tư nước ngoài đạt 5.050 tỷ đồng, bằng 100%; vốn nhà nước đạt 3.740 tỷ đồng, bằng 99,8% kế hoạch.

4.1. Thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp

- Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thu hút được 154 dự án đầu tư, trong đó có 107 dự án đầu tư trong nước, vốn đăng ký 5.576 tỷ đồng, 47 dự án đầu tư nước ngoài, vốn đăng ký 214,5 triệu USD. So với năm 2014, số dự án đầu tư trong nước tăng 32,1%, vốn đăng ký tăng 18,5%; số dự án đầu tư nước ngoài tăng 18,8%, vốn đăng ký tăng 4,3%. Vốn thực hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 230 triệu USD, tăng 12,2%.

- Có 564 doanh nghiệp được thành lập mới, tăng 28,5%, vốn đăng ký 2.050 tỷ đồng, bằng 75% so với năm 2014, nâng tổng số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập đến nay là 4.782 doanh nghiệp với vốn đăng ký 20.744 tỷ đồng. Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn khởi sắc hơn so với năm 2014, có khoảng 53% doanh nghiệp hoạt động ổn định và có lãi, thu nhập bình quân của người lao động đạt khoảng 5 triệu đồng/người/tháng, tăng 3,1%.

4.2. Đầu tư xây dựng cơ bản nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Ước đến 31/12/2015, giá trị khối lượng thực hiện đạt 3.720 tỷ đồng, bằng 110% kế hoạch, giá trị giải ngân đạt 3.050 tỷ đồng, bằng 90,6% kế hoạch.

II. Lĩnh vực văn hóa - xã hội

1. Giáo dục và Đào tạo

- Quy mô trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ngày càng được tăng cường đầu tư theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa và hiện đại hóa. Tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp học đạt 84,2%, tăng 0,7%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia ước đạt 80,2%, tăng 6,4% so với năm 2014.

- Công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở được củng cố, duy trì vững chắc tại 100% xã, phường, thị trấn. Năm 2015, tỉnh Bắc Giang đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.

2. Công tác văn hóa, thể thao và du lịch

- UBND tỉnh đã chỉ đạo tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, thể thao chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn, đặc biệt đã tổ chức thành công Lễ Kỷ niệm và nhiều hoạt động kỷ niệm 120 năm Ngày thành lập tỉnh.

- Tỷ lệ làng bản, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa đạt 62%, tỷ lệ hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa chiếm 85%. Đã tổ chức thành công 3 giải thể thao toàn quốc tại tỉnh Bắc Giang, tổ chức 135 giải thể thao cấp huyện, thành phố, ngành và trên 1.900 giải thể thao cấp xã phường, thị trấn.

3. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số kế hoạch hóa gia đình

- Cơ sở vật chất y tế tiếp tục được đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế; trong đó các bệnh viện tuyến tỉnh tiếp tục phát triển các khoa, phòng mang tính chuyên sâu, đồng thời tiến hành nâng hạng đối với các bệnh viện đủ tiêu chuẩn. Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế ước đạt 83,5%, đạt 107,8% kế hoạch.

- Công tác tuyên truyền về dân số - kế hoạch hóa gia đình được thực hiện có hiệu quả. Ước năm 2015, mức giảm tỷ lệ sinh là 0,1‰, tỷ số giới tính khi sinh nam/nữ toàn tỉnh là 115,7 nam/100 nữ, bằng năm 2014.

4. Tình hình đời sống nhân dân, lao động, việc làm và chính sách xã hội

Đời sống nhân dân trên địa bàn cơ bản ổn định và từng bước được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 7,5%, đạt kế hoạch đề ra.

Tổng số người được tạo việc làm mới khoảng 28.500 lao động, đạt 100% kế hoạch; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50,5%.

III. Lĩnh vực nội chính

1. Công tác tư pháp, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thi hành án dân sự

- Công tác thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, trong năm đã thụ lý 8.279 việc có điều kiện giải quyết với số tiền gần 590 tỷ đồng; trong đó, số thụ lý mới 4.184 việc. Trong số các việc có điều kiện thi hành, đã giải quyết xong 7.750 việc, đạt tỷ lệ 93,6%, với số tiền đạt 330 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 56%.

2. Công tác cải cách hành chính

Đến nay, số cơ quan chuyên môn cấp tỉnh thực hiện cơ chế một cửa là 18/19; 100% huyện, thành phố triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa hiện đại; có 139 đơn vị cấp xã thực hiện mô hình một cửa điện tử liên thông hiện đại, trong đó một số huyện đã triển khai tới 100% đơn vị xã, phường, thị trấn là thành phố Bắc Giang, Lạng Giang, Việt Yên và Hiệp Hòa.

Việc ứng dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành qua mạng được thực hiện ở tất cả các sở, ngành và UBND huyện, thành phố, trong đó có 05 huyện triển khai cài đặt phần mềm đến cấp xã là: Huyện Lạng Giang, Việt Yên, Sơn Động, Hiệp Hòa và TP Bắc Giang. Tỷ lệ văn bản điện tử đến chiếm 77,5%, tăng 15%, tỷ lệ văn bản điện tử gửi đi chiếm 79%, tăng 18% so với năm 2014.

3. Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Các cấp, ngành, địa phương đã duy trì thực hiện tốt công tác tiếp dân, phân loại, xử lý đơn thư đúng quy định, trong năm toàn tỉnh đã tổ chức tiếp 6.011 lượt người, giảm 11,8%, đến đề nghị giải quyết 4.627 vụ việc, giảm 8,2% so với năm 2014; tiếp nhận 5.529 đơn khiếu nại tố cáo, giảm 16,7%, tổng số đơn phải giải quyết là 2.285 đơn, đã giải quyết xong 2.143 đơn, đạt tỷ lệ 93,8%.

4. Công tác quốc phòng- an ninh, đối ngoại

Công tác quốc phòng, an ninh được đảm bảo thực hiện tốt, đảm bảo an toàn, an ninh trật tự trong dịp Tết Nguyên đán, kỷ niệm các ngày lễ lớn, đặc biệt trong dịp diễn Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVIII, kỷ niệm 120 năm ngày thành lập tỉnh.

Chủ động mở rộng hợp tác, thắt chặt quan hệ với các đối tác nước ngoài, các tổ chức quốc tế; tích cực tìm kiếm cơ hội để thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với các địa phương nước ngoài nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại, đồng thời nâng cao vị thế và hình ảnh của tỉnh Bắc Giang trong mắt bạn bè quốc tế.

6. Công tác đảm bảo an toàn giao thông

Tình hình tai nạn giao thông giảm trên cả 3 tiêu chí, tính từ ngày 16/12/2014 đến ngày 15/11/2015) đã xảy ra 242 vụ, làm chết 98 người, làm bị thương 209 người (giảm 15% số vụ, giảm 10,9% số người chết, giảm 15,7% số người bị thương so với cùng kỳ năm 2014).

* Có thể thấy, năm 2015 mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng tình hình KT-XH của tỉnh tiếp tục phát triển và đạt được kết quả khá tích cực, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch, đời sống nhân dân ổn định, từng bước được nâng lên; quốc phòng, an ninh được đảm bảo.

Song bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại hạn chế như: Tăng trưởng một số ngành kinh tế chưa bền vững, phụ thuộc khá nhiều khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; tình hình sản xuất của các doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, khai thác khoáng sản trái phép vẫn còn xảy ra, ô nhiễm môi trường nông thôn, làng nghề chậm được khắc phục; tình hình tội phạm diễn biến phức tạp; công tác quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần sớm khắc phục.../.

Hải Huyền (tổng hợp)


  • map
3 7 Văn bản mới - chính sách mới C Đường dây nóng Danh ba dien tu 10 thanh tuu noi bat