Chính trị
Chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 4 HĐND tỉnh Bắc Giang khóa XVIII
Số lần xem: 527            Ngày đăng: 07/12/2017

Tiếp tục chương trình làm việc, chiều nay (07/12), kỳ họp thứ 4 HĐND tỉnh Bắc Giang khóa XVIII bước sang ngày làm việc thứ 2. Các đại biểu đã tiến hành chất vấn Giám đốc các Sở, thủ trưởng các ngành của tỉnh tại hội trường về các vấn đề kinh tế - xã hội. Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Bùi Văn Hạnh điều hành phiên họp.

Dự phiên làm việc có các đồng chí: Bùi Văn Hải - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Thân Văn Khoa - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Nguyễn Văn Linh - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh.  

Toàn cảnh phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

14h00': Mở đầu phiên chất vấn, ông Hà Văn Bé - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Yên Dũng chất vấn bà Vũ Hồng Minh - Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) về vấn đề lao động việc làm. Đại biểu Hà Văn Bé nêu: Trong thời gian qua, tỉnh đã tập trung để giải quyết vấn đề này nhằm tạo ra sự chuyến dịch cơ cấu lao động, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực trong đó có nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã và đang nảy sinh rất nhiều vấn đề phải quan tâm giải quyết. Đại biểu đề nghị Giám đốc Sở LĐ-TB&XH đánh giá thực trạng việc thực hiện các yêu cầu trên và cho biết giải pháp cho vấn đề lao động, việc làm trong thời gian tới.

Ông Hà Văn Bé - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Yên Dũng chất vấn bà Vũ Hồng Minh.
Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Trả lời vấn đề đại biểu nêu, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH cho biết thời gian qua, hoạt động thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp của tỉnh đạt được nhiều kết quả tích cực; các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, đào tạo nghề được các ngành, địa phương quan tâm, triển khai thực hiện, qua đó giúp tỷ lệ thất nghiệp chung của tỉnh duy trì ở mức thấp hơn tỷ lệ chung của cả nước; số người được tuyển sinh và dạy nghề đạt trên 29.000 người/năm; số lao động được giải quyết việc làm đạt trên 28.500 người/năm, trong đó xuất khẩu lao động khoảng 3.900 người/ năm.

Tuy nhiên, hiện nay công tác giải quyết việc làm còn bộc lộ một số vấn đề cần quan tâm, giải quyết, cụ thể như tính ổn định, bền vững trong việc làm còn thấp; còn nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh phải cắt giảm hàng nghìn lao động. Nhu cầu sử dụng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tại các doanh nghiệp còn hạn chế. Cơ cấu xuất khẩu lao động chuyển dịch chưa mạnh, xuất khẩu lao động phổ thông còn chiếm tỷ lệ lớn. Tình trạng lao động hết hạn hợp đồng không trở về nước và ở lại cư trú bất hợp pháp còn cao, đặc biệt là tại Hàn Quốc.

Bà Vũ Hồng Minh - Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Bên cạnh đó, còn nhiều doanh nghiệp thực hiện chưa nghiêm túc các quy định của pháp luật lao động; tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạt động tham gia đóng bảo hiểm xã hội còn thấp; tình trạng nợ đóng bảo hiểm xã hội còn nhiều.

Để khắc phục các vấn đề trên, UBND tỉnh, Ban chỉ đạo công tác giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm của tỉnh đã và đang quyết liệt chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động đầu tư phát triển sản xuất, thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế trọng điểm, giải quyết được nhiều việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp; trong đó ưu tiên thu hút các nhà đầu tư có tiềm lực về vốn, các dự án sản xuất công nghệ cao, công nghiệp sạch, có giá trị gia tăng cao, ít gây ô nhiễm môi trường và có nhu cầu sử dụng nhiều lao động đã qua đào tạo nghề. Quan tâm phát triền bền vững thị trường lao động, xây dựng đồng bộ hệ thống thông tin thị trường lao động. Nâng cao chất lượng hoạt động xuất khẩu lao động. Thực hiện tốt chương trình đào tạo nghề gắn với việc làm. Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các dự án giải quyết việc làm, chính sách tín dụng ưu đãi để phát triển kinh tế, tạo việc làm. Tăng cường và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về lao động, việc làm. Tập trung tuyên truyền, phổ biến các quy định cơ bản của pháp luật lao động và thông tin thị trường lao động tới doanh nghiệp và người lao động; tuyên truyền, định hướng và tư vấn về nghề nghiệp, chính sách đào tạo nghề và việc làm sau đào tạo đối với lao động trên địa bàn tỉnh.

Đại biểu Ngô Văn Nam - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Yên Dũng. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Về vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động, đại biểu Ngô Văn Nam - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Yên Dũng nêu: Thực tế trong chuyển dịch cơ cấu của tỉnh thời gian qua đã có nhiều chuyến biến tích cực, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ngày một giảm, lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch này đang diễn ra theo xu hướng không hợp lý đó là lao động trong các doanh nghiệp chủ yếu là giản đơn, gia công, lắp ráp, ít được đào tạo thậm chí không cần đào tạo, lao động có tay nghề, kỹ thuật cao quá ít, lao động chủ yếu là nữ, trẻ. Điều đó chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy về KT-XH đặt ra trong thời gian tới. Giám đốc Sở LĐ-TB&XH đánh giá về tình hình trên như thế nào và có giải pháp gì trong trong thời gian tới.

Về vấn đề đại biểu Ngô Văn Nam chất vấn, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH cho rằng thời gian qua, số lượng doanh nghiệp của tỉnh tăng khá nhanh, giúp cơ cấu lao động chuyến dịch theo hướng tích cực nhưng hiện nay cơ cấu lao động trong các doanh nghiệp còn một số hạn chế như: tỷ lệ lao động phổ thông, lao động nữ còn cao; sự phân biệt về độ tuổi, giới tính trong tuyển dụng lao động còn nhiều.

Thời gian gần đây, theo kết quả quản lý, theo dõi tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp thì các hạn chế trên đang được điều chỉnh theo hướng tích cực do nguồn cung lao động nữ, lao động trong nhóm tuổi trẻ không đủ và nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo của các dự án đầu tư mới gia tăng.

Thời gian tới, để nâng cao chất lượng việc làm, tạo cơ hội việc làm bình đẳng cho các lao động trong độ tuổi lao động, đảm bảo cân bằng giới trong các doanh nghiệp; Sở Lao động - TB&XH sẽ tiếp tục tham mưu giúp UBND tỉnh, Ban chỉ đạo công tác giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm của tỉnh triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ như: Nâng cao hiệu quả công tác thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, dịch vụ, trong đó ưu tiên thu hút các dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng nhiều lao động đã qua đào tạo nghề.

Tăng cường công tác quản lý đối với hoạt động tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp, yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện quan tâm, tạo cơ hội việc làm bình đẳng, không phân biệt giới tính, độ tuổi khi tuyển lao động.

Tiếp tục tập trung triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động, BHXH, góp phần đảm bảo mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định trong doanh nghiệp, cụ thể như: Thường xuyên rà soát, nắm chắc việc chấp hành pháp luật lao động của các doanh nghiệp; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong tuyển dụng lao động, trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng lao động tại các doanh nghiệp,...  Chỉ đạo Trung tâm dịch vụ việc làm nâng cao chất lượng kết nối cung - cầu cho doanh nghiệp và người lao động.

Đại biểu Nguyễn Thị Minh - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Lục Ngạn. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Đại biểu Nguyễn Thị Minh - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Lục Ngạn chất vấn: Trong chuyển dịch cơ cấu lao động hiện nay còn một bộ phận khá lớn ở nông thôn không có khả năng tham gia vào quá trình chuyển dịch đó nhưng chưa được quan tâm thỏa đáng về việc đào tạo, tạo công ăn việc làm, hỗ trợ phát triển sản xuất. Ngành LĐ-TB&XH đã làm gì để quan tâm giải quyết vấn đề trên và thời gian tới có giải pháp gì để quan tâm đến lao động nông nghiệp, nông thôn để phục vụ cho chương trình xây dựng nông thôn mới.

Trả lời vấn đề đại biểu Nguyễn Thị Minh nêu, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH cho biết để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho lao động nói chung và cho lao động thuộc khu vực nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh; thời gian qua, Sở LĐ - TB&XH đã tham mưu BCĐ công tác giáo dục nghề nghiệp và giải quyết việc làm của tỉnh phân công các thành viên tích cực phối hợp với các BCĐ có liên quan khác như BCĐ hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, BCĐ giảm nghèo, BCĐ phát triển kinh tế tập thể, BCĐ đổi mới và phát triển doanh nghiệp để tập trung chỉ đạo địa phương, các cơ quan, đơn vị triển khai các giải pháp đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển sản xuất, thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế trọng điểm; đồng thời chỉ đạo các thành viên BCĐ thuộc các ngành liên quan thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao.

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được phân công, năm 2017, Sở LĐ - TB&XH đã phối hợp với các ngành, địa phương đẩy mạnh hoạt động thông tin tuyên truyền về các chính sách hỗ trợ vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm; chính sách hỗ trợ học nghề, học tiếng, làm các thủ tục đi XKLĐ đối với lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số, thân nhân người có công với cách mạng; đặc biệt tuyên truyền cụ thể về danh sách các doanh nghiệp có nhu cầu cần tuyển 34.319 lao động trong năm 2017.

Đồng thời chỉ đạo Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh chủ động mời doanh nghiệp và người lao động tham dự 65 phiên giao dịch việc làm, thu hút 72 lượt doanh nghiệp và gần 15.000 lượt lao động tham dự giao dịch việc làm, có 1.800 lao động đã tìm được việc làm trực tiếp tại các phiên giao dịch việc làm. Chỉ đạo Trung tâm Dịch vụ việc làm hướng dẫn người lao động làm thủ tục và ra quyết định cho 9.202 người hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp.

Phối hợp với các sở, ngành, địa phương chấn chỉnh 38 cơ sở, địa điểm có treo biển quảng cáo hoạt động XKLĐ trên địa bàn tỉnh; quản lý và hỗ trợ 32 doanh nghiệp XKLĐ tuyển chọn, đưa 3.500 lao động đi XKLĐ; đã trực tiếp hướng dẫn 329 lao động làm thủ tục xuất cảnh sang Hàn Quốc làm việc;…

Tích cực phối hợp với các sở, ngành liên quan, UBND huyện, thành phố triển khai thực hiện Dự án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn”; đã tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong hoạt động dạy nghề đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, khuyến khích các cơ sở dạy nghề về tổ chức các lớp đào tạo nghề tại các xã vùng sâu, vùng xa, khu vực có nhiều lao động nông thôn thiếu việc làm.

Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Bùi Văn Hạnh điều hành phiên chất vấn và trả lời chất vấn.
Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Để nâng cao chất lượng giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn để phục vụ cho chương trình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới, Sở LĐ- TB&XH tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh, BCĐ công tác giáo dục nghề nghiệp thường xuyên kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các ngành, địa phương theo trách nhiệm được phân công trong quy chế làm việc, kế hoạch công tác năm của BCĐ và trong chương trình giải quyết việc làm, XKLĐ giai đoạn 2013 - 2020 của tỉnh để điều chỉnh, bổ sung kịp thời các giải pháp đã và đang triển khai thực hiện.

Từ tháng 12/2017, Sở LĐ - TB&XH phối hợp với UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kết nối cung - cầu cho lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn, cụ thể: Chỉ đạo Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh thực hiện tốt việc thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin về nhu cầu tuyển lao động từ doanh nghiệp và định kỳ hàng tháng cung cấp cho UBND cấp xã để tuyên truyền, phổ biến trên hệ thống loa truyền thanh cho người lao động nắm rõ và đăng ký tìm việc, học nghề tại UBND xã; thường xuyên phối hợp với UBND các huyện tổ chức các phiên giao dịch việc làm theo các cụm xã để giúp doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề và ngưởi lao động kết nối cung - cầu.

Đồng thời chỉ đạo UBND cấp xã thường xuyên phổ biến thông tin về nhu cầu, điều kiện tuyển lao động và chế độ đãi ngộ của doanh nghiệp, thông tin về các phiên giao dịch việc làm cho người lao động trên địa bàn, đặc biệt là các lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản; khuyến khích người lao động có nhu cầu học nghề, tìm việc làm tới UBND xã đăng ký hỗ trợ tìm việc làm hoặc tìm cơ sở dạy nghề, sau đó tổng hợp và định kỳ hàng tháng gửi cho Trung tâm dịch vụ việc làm để tổ chức các phiên giao dịch việc làm.

Đại biểu Đỗ Mạnh Tiến - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Tân Yên. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Đại biểu Đỗ Mạnh Tiến - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Tân Yên nêu: Thực tế việc đánh giá tình hình về số liệu lao động thời gian vừa qua còn chưa thuyết phục, cách đánh giá ở từng cấp còn thiếu căn cứ và chưa đồng nhất. Việc thống kê số liệu lao động qua đào tạo chưa chính xác và chưa cho thấy rõ bức tranh về chất lượng lao động. Đề nghị Giám đốc Sở LĐ-TB&XH cho biết các căn cứ để đánh giá về số lượng và chất lượng lao động của tỉnh và giải pháp để nâng cao chất lượng lao động phục vụ cho phát triển của tỉnh thời gian tới.

Về vấn đề đại biểu Đỗ Mạnh Tiến chất vấn, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH đã trả lời rõ số liệu để đánh giá về số lượng và chất lượng lao động của tỉnh; phương pháp tính; nguồn số liệu để tính tỷ lệ lao động qua đào tạo từ năm 2010 đến nay.

Theo bà Vũ Hồng Minh, để có nguồn dữ liệu xác định chính xác về chỉ tiêu số lao động qua đào tạo, số lao động đi XKLĐ, việc làm tăng thêm,...; ngày 24/7/2015, Bộ LĐ-TB&XH đã ban hành Thông tư số 27/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thu thập, lưu trữ, tổng hợp thông tin thị trường lao động, trong đó quy định tháng 7 hàng năm, UBND cấp xã có trách nhiệm điều tra, ghi chép các thông tin cơ bản của toàn bộ người lao động có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của các hộ gia đình trên địa bàn xã vào sổ ghi chép cung lao động do Bộ LĐ - TB&XH cung cấp, sau đó chuyển sổ ghi chép tới Sở LĐ - TB&XH để nhập kết quả vào phần mềm cơ sở dữ liệu thị trường lao động Quốc gia.

Tuy nhiên, từ năm 2016 đến nay, do Bộ LĐ - TB&XH chưa in, phát hành được Sổ ghi chép cung lao động cho các tỉnh, phần mềm cơ sở dữ liệu chưa hoàn chỉnh (do hạn chế về kinh phí) và do kinh phí chi cho cuộc điều tra quá lớn nên các địa phương chưa triển khai được việc điều tra theo quy định tại Thông tư số 27/2015/TT-BLĐTBXH; do đó, hiện nay Bộ LĐ - TB&XH đang nghiên cứu, xem xét chỉnh sửa Thông tư số 27/2015/TT-BLĐTBXH theo hướng điều tra chọn mẫu hàng năm, tổng điều tra định kỳ 5 năm 1 lần.

Thời gian tới, sau khi Bộ LĐ - TB&XH triển khai giải pháp cụ thế để thực hiện Thông tư số 27/2015/TT-BLĐTBXH thì Sở LĐ - TB&XH và UBND các huyện, thành phố sẽ tích cực thực hiện, đảm bảo chất lượng, hiệu quả, chính xác về số liệu điều tra theo quy định.

Đại biểu Trần Văn Minh - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Lục Ngạn. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Chất vấn về tình trạng dạy nghề còn nhiều bất cập, đại biểu Trần Văn Minh - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Lục Ngạn chất vấn: Thực trạng việc dạy nghề của tỉnh ta còn rất nhiều bất cập cả về số lượng, cơ cấu, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, tuyển sinh, cơ chế tự chủ và cách thức đào tạo khiến cho cử tri hết sức băn khoăn. Giám đốc cho biết trong thời gian tới sẽ có những biện pháp gì để giải quyết các vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo nghề của tỉnh.

Về vấn đề này, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH giải trình, hiện nay, toàn tỉnh có 59 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được cấp phép hoạt động theo quy định của pháp luật, gồm: 03 trường Cao đẳng, 10 trường Trung cấp, 17 trung tâm giáo dục nghề nghiệp và 29 cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp; trong đó có 24 đơn vị công lập và 35 đơn vị tư thục, doanh nghiệp. Các cơ sở đào tạo có tổng năng lực tuyển sinh là 45.075 học sinh, sinh viên/năm ở 83 nghề khác nhau; trong đó: trình độ Cao đẳng là 1.015, trình độ Trung cấp là 4.760, sơ cấp nghề và dạy nghề thường xuyên (dạy nghề dưới 3 tháng) là 39.300. Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chương trình và giáo trình đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp cơ bản đáp ứng đủ theo quy định.

Một số tồn tại, bất cập trong công tác giáo dục nghề nghiệp hiện nay trên địa bàn tỉnh như: Đến nay, nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện Luật giáo dục nghề nghiệp vẫn chưa được các Bộ, ngành trung ương ban hành như: Quy hoạch hệ thống cơ sở Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam; Nghị định riêng quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; danh mục ngành, nghề được nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí; xây dựng được định mức kinh tế - kỹ thuật ngành; quy định về đấu thầu, đặt hàng trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp,...

Thực hiện chỉ đạo của các Bộ, ngành trung ương, từ ngày 01/4/2017, Sở LĐ - TB&XH nhận bàn giao từ Sở Giáo dục và Đào tạo nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với khối các Trường chuyên nghiệp. Tuy nhiên đến nay, trong điều kiện phải nghiên cứu, triển khai nhiều văn bản mới để thực hiện Luật nhưng Sở vẫn không được giao bổ sung biên chế theo chỉ đạo.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh phân bổ không đều ở các huyện; phần lớn có trụ sở đăng ký hoạt động trên địa bàn thành phố Bắc Giang.

Cơ cấu ngành, nghề đào tạo, quy mô đào tạo ở trình độ Cao đẳng, Trung cấp còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng quy mô tuyển sinh (chiếm 12,8%); chưa thu hút được các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư, phát triển cơ sở đào tạo ở cấp trình độ này.

Cơ cấu nhà giáo giáo dục nghề nghiệp còn chưa thực sự hợp lý giữa các ngành, nghề đào tạo; một số cơ sở đào tạo tại một số thời điếm nhất định bị thiếu giáo viên ở những nghề tuyển sinh được nhiều học sinh và lại thừa giáo viên ở những nghề không tuyển sinh được. Công tác bồi dưỡng, cập nhật kỹ năng nghề phù hợp với công nghệ mới của doanh nghiệp chưa được thường xuyên, kịp thời.

Ngân sách của tỉnh dành cho hỗ trợ đào tạo nghề có nhiều hạn chế; trong 02 năm gần đây tỉnh không cấp kinh phí để thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nguồn ngân sách trung ương đã giảm nhiều trong khi chi hỗ trợ tiền ăn, đi lai cho đối tượng lại được quy định tăng lên.

Để hạn chế những tồn tại, bất cập trên, trong thời gian tới, Sở Lao động - TB&XH sẽ tập trung tham mưu, đề xuất, thực hiện một số giải pháp như:

Đề nghị Chính phủ sớm ban hành Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp và Nghị định riêng Quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Các Bộ, ngành trung ương sớm ban hành đầy đủ, đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành Luật giáo dục nghề nghiệp và thực hiện cơ chế tự chủ đối với các đơn vị trong lĩnh vực này.

Đề nghị HĐND, UBND tỉnh quan tâm, bố trí kinh phí để triển khai thực hiện các chính sách về giáo dục nghề nghiệp; trong đó có phân bổ kinh phí hỗ trợ đào tạo theo số lượng tuyển sinh được cho các Trường Cao đẳng, Trung cấp công lập của tỉnh và kinh phí thực hiện Dự án đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Đề nghị UBND tỉnh giao bổ sung biên chế cho Ngành Lao động - TB&XH để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp mới được bổ sung. Tiếp tục quan tâm và đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề cho các cán bộ quản lý và nhà giáo giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Chủ động, tích cực tổ chức rà soát, sắp xếp lại các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp theo thẩm quyền; tăng cường kiểm tra các điều kiện đảm bảo hoạt động theo quy định.

Đại biểu Nguyễn Thị Hiền - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Lục Ngạn. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Về vấn đề tiền công, tiền lương, đình công, bãi công…, đại biểu Nguyễn Thị Hiền - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Lục Ngạn nêu: Hiện nay có rất nhiều vấn đề đang đặt ra đối với người lao động như vấn đề tiền công, tiền lương, đình công, bãi công, sa thải công nhân cao tuổi, nợ, trốn đóng BHXH, chỗ ở, điểm vui chơi giải trí, cơ sở vật chất phục vụ việc học của con em công nhân,... Đề nghị Giám đốc cho biết những vấn đề đó đang đặt ra ở tỉnh như thế nào và ta phải làm gì để tập trung giải quyết trong thời gian tới.

Theo Giám đốc Sở LĐ-TB&XH: Trong những năm gần đây, số vụ ngừng việc tập thể của người lao động trong các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng, từ đầu năm 2017 đến nay đã xảy ra 13 vụ ngừng việc tập thể với gần 13.000 lao động tham gia (tăng 30% so với cùng kỳ năm 2016); nhiều doanh nghiệp thực hiện chưa nghiêm túc các quy định của pháp luật lao động như chưa xây dựng thang lương, bảng lương và đăng ký nội quy lao động với cơ quan nhà nước theo đúng quy định; tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạt động tham gia đóng BHXH còn dưới 60%; tình trạng nợ đóng, trốn đóng BHXH còn nhiều.

Các giải pháp đã và đang triển khai để chấn chỉnh tình hình vi phạm pháp luật lao động tại doanh nghiệp: Trong năm 2017, UBND tỉnh đã tổ chức 03 hội nghị kiểm điểm, đánh giá việc chấp hành pháp luật lao động, BHXH của các doanh nghiệp và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về lao động, BHXH, sau các hội nghị, UBND tỉnh đều có văn bản giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho từng ngành, địa phương triển khai thực hiện.

Thực hiện các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh, từ đầu năm 2017 đến nay, Sở LĐ - TB&XH, Cục thuế tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Liên đoàn Lao động tỉnh, BHXH tỉnh, Ban quản lý các KCN tỉnh, UBND các huyện, thành phố đã thường xuyên phối hợp rà soát, chia sẻ dữ liệu theo dõi việc chấp hành pháp luật lao động của các doanh nghiệp; UBND cấp xã đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật lao động trên hệ thống loa truyền thanh; UBND các huyện, thành phố đã cấp 2.000 cuốn sổ tay hướng dẫn thực hiện pháp luật lao động cho doanh nghiệp, đã cử cán bộ hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký tham gia BHXH, xây dựng thang, bảng lương, nội quy lao động, đã ban hành 1.392 văn bản thông báo cho các doanh nghiệp về hành vi vỉ phạm và yêu cầu khắc phục; Sở Kế hoạch và Đầu tư đã cung cấp cho các doanh nghiệp mới đăng ký thành lập văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định cơ bản về pháp luật lao động; BHXH tỉnh đã công khai các doanh nghiệp nợ, đóng BHXH trên phương tiện thông tin, đại chúng; các cơ quan chức năng phối hợp, chấm điểm phân loại mức độ chấp hành pháp luật lao động của các doanh nghiệp, tăng cường kiểm tra, xử phạt các doanh nghiệp cố tình không khắc phục tồn tại, vi phạm;...

Bên cạnh đó, năm 2017, Sở LĐ - TB&XH đã phối hợp với BHXH tỉnh, Liên đoàn lao động tỉnh kiểm tra 25 doanh nghiệp; chủ trì thanh tra 24 doanh nghiệp, kiểm tra 11 doanh nghiệp. Qua đó đã phạt 655.700.346 đồng đối với 22 doanh nghiệp; kiến nghị 60 doanh nghiệp khắc phục 417 nội dung tồn tại, hạn chế.

Căn cứ chỉ đạo của BHXH Việt Nam, trong 11 tháng đầu năm 2017, BHXH tỉnh đã chủ trì thanh tra 41 doanh nghiệp, kiểm tra 67 doanh nghiệp; qua đó đã phạt 01 doanh nghiệp với số tiền 50 triệu đồng; yêu cầu doanh nghiệp truy đóng 10.300.874.168 đồng do chưa đóng, đóng thiếu thời gian đối với 5.389 lao động; thu hồi 91.914.300 đồng về quỹ BHXH số tiền BHXH ngắn hạn sai quy định.

Trong thời gian tới, các sở, ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã nêu trong các kế hoạch, văn bản chỉ đạo do UBND tỉnh ban hành.

Trong tháng 12/2017, Sở LĐ - TB&XH sẽ trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Chỉ thị về việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động; tích cực vận động doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội; vận động người lao động chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, quan tâm chia sẻ với doanh nghiệp lúc sản xuất gặp khó khăn, không được tự ý nhảy việc, bỏ việc,...

Các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động, BHXH tiếp tục rà soát, đánh giá việc chấp hành pháp luật lao động; tập trung thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các doanh nghiệp chấp hành pháp luật lao động ở mức độ yếu, kém.

Liên đoàn lao động tỉnh đẩy mạnh việc phát triển tố chức công đoàn tại các doanh nghiệp; hướng dẫn, hỗ trợ công đoàn cơ sở phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức các cuộc đối thoại, thương lượng định kỳ hàng quý.

Đại biểu Hoàng Thị Phương – đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Hiệp Hòa. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

15h00': Đại biểu Hoàng Thị Phương - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Hiệp Hòa chất vấn ông Ong Thế Viên - Giám đốc Sở Y tế về vấn đề dân số. Đại biểu Phương nêu: Hiện nay, vấn đề lao động - việc làm có sự gắn bó hết sức mật thiết với công tác dân số. Lâu nay hầu như chúng ta chưa đề cập đến mối quan hệ này và công tác dân số của chúng ta mới đề cập nhiều đến kế hoạch hóa gia đình. Đề nghị Giám đốc Sở Y tế cho biết thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 về công tác dân số và đòi hỏi của tình hình mới chúng ta phải làm gì để thực hiện quan điểm dân số và phát triển, tỉnh Bắc Giang phải tập trung những vấn đề gì để tận dụng cơ cấu dân số hiện nay và cơ cấu dân số Bắc Giang hiện nay đang đánh giá là thời kỳ nào. Công tác dân số phải làm gì để gắn kết giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm trong ngắn hạn và dài hạn.

Ông Ong Thế Viên - Giám đốc Sở Y tế. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Trả lời vấn đề đại biểu Hoàng Thị Phương nêu, Giám đốc Sở Y tế cho biết: Quan điểm Nghị quyết 21-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương khóa VII về công tác dân số trong tình hình mới: "Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt chất lượng dân số".

Căn cứ vào mục tiêu và 7 nhiệm vụ , giải pháp chủ yếu theo Nghị quyết 21 đến năm 2030 về công tác dân số, ngành Y tế sẽ cùng các ngành tham mưu Tỉnh ủy kế hoạch với các nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình cụ thể thực hiện Nghị quyết.

Thời gian tới, ngành Y tế tiếp tục tập trung các nhiệm vụ nhằm nâng cao chất lượng dân số như: Sàng lọc trước sinh qua chẩn đoán siêu âm, phát hiện các dị tật bẩm sinh trẻ liên quan đến các bệnh lý nhiễm sắc thể ( bệnh Down…) ở tuổi thai 12-22 tuần.

Sàng lọc sơ sinh: lấy mẫu máu gót chân phát hiện suy giáp bẩm sinh, thiếu G6PD (gây tan máu bẩm sinh), phát hiện các dị tật khác: tim bẩm sinh để phẫu thuật sớm. Cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho đối tượng vị thành niên-thanh niên gồm: khám tư vấn tiền hôn nhân, các biện pháp tránh thai, làm mẹ an toàn, giảm tình trạng mang thai ngoài ý muốn. Thực hiện tiêm chủng 8 loại vắc-xin theo chương trình mục tiêu quốc gia, bảo đảm miễn dịch cộng đồng. Phòng chống suy dinh dưỡng thể thấp còi cũng như phòng chống béo phì trẻ em. Phối hợp cơ quan truyền thông tuyên truyền về rèn luyện sức khỏe, chế độ ăn uống, luyện tập, hạn chế bia, rượu, hút thuốc lá, thuốc lào... phòng tránh các bệnh không lây nhiễm. Phát triển hệ thống chuyên ngành lão khoa các bệnh viện huyện và bệnh viện chuyên khoa…

Theo ông Ong Thế Viên, Bắc Giang bước vào giai đoạn dân số vàng từ năm 2007. Theo thống kê ngày 01/7/2006, dân số tuổi dân số vàng (15-64) Bắc Giang chiếm 62,4%; dân số thành thị 9,5%, nông thôn 90,5%; tỷ lệ lao động đã được đào tạo đang làm việc 16,5% (cả nước 20,6%). Theo dự báo thì giai đoạn dân số vàng kéo dài khoảng 34 nghĩa là đến năm 2041 Việt Nam và Bắc Giang sẽ hết giai đoạn dân số vàng.

Từ năm 2011, tỷ lệ người cao tuổi ≥ 65 tuổi ở Bắc Giang là 7,2% tức là bước vào giai đoạn già hóa dân số; dự báo Việt Nam giai đoạn già hóa dân số kéo dài 16-18 năm, nghĩa là đến năm 2030 sẽ chuyển giai đoạn dân số già, người ≥ 65 chiếm trên 14% dân số. Nguy cơ, quốc gia cũng như tỉnh là tỉnh chưa giàu đã già.

Dân số trẻ dưới 15 tuổi Bắc Giang chiếm 24,2% (cả nước 23,5%), theo dự báo đến năm 2040 dân số trẻ còn 17,9% dân số cả nước.

Từ số liệu trên, tận dụng giai đoạn dân số vàng cũng như giải quyết vấn đề việc làm là nhiệm vụ của Sở ngành tham mưu, tổ chức thực hiện. Dự báo các ngành nghề thiếu lao động nhiều trong năm tới để định hướng, hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên và người lao động. Tạo nhiều ngành nghề sử dụng lao động đa dạng. Phát triển khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao.

Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ người cao tuổi ở nông thôn (chiếm 70%) không có lương hưu, trợ cấp xã hội; khuyến khích người cao tuổi tham gia các hoạt động KT-XH; chính sách chăm sóc người cao tuổi: xây dựng môi trường thân thiện cho người cao tuổi, hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe người cao tuổi…

Chủ tọa kỳ họp. Ảnh: Hoàng Hà

Về việc mất cân bằng giới tính, đại biểu Nguyễn Văn Tuyền – đại biểu HĐND tỉnh huyện Lục Nam chất vấn: Việc mất cân bằng giới tính khi sinh và mất cân bằng giới trong chuyển dịch cơ cấu lao động đang là vấn đề xã hội hết sức quan tâm. Giám đốc Sở Y tế cho biết thực trạng và những khó khăn cũng như trách nhiệm của Sở trong việc tham mưu đề xuất và giải quyết vấn đề này thời gian qua và thời gian tới thế nào?

Về vấn đề đại biểu Tuyền nêu, Giám đốc Sở Y tế cho biết thực trạng hiện nay là tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) tỉnh Bắc Giang hiện nay (10 tháng đầu năm 2017) là 114 nam/100 nữ, đứng thứ 18 so với toàn quốc (toàn quốc năm 2016 là 112,2 nam/100 nữ). TSGTKS của tỉnh liên tục giảm trong những năm gần đây song vẫn ở mức cao so với toàn quốc. Hiện toàn quốc đã có 45 tỉnh, thành phố có tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh là 115 nam/100 nữ. Và mục tiêu Việt Nam khống chế vào năm 2020 là 115nam/100 nữ nên nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh còn tăng (dự báo đến 2025-2030).

Về khó khăn trong việc giải quyết vấn đề này, ông Ong Thế Viên cho biết do tư tưởng thích con trai vẫn tồn tại ở đại đa số nhân dân, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Hồng trong khi khoa học phát triển (internet phổ biến phương pháp, cán bộ y tế tư vấn và hỗ trợ lựa chọn giới tính thai nhi…) và các khó khăn trong việc kiểm tra, phát hiện các vi phạm về cấm lựa chọn giới tính thai nhi; một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm chính sách dân số gây khó khăn trong công tác tuyên truyền vận động nhân dân; kinh phí cho công tác Dân số - KHHGĐ ngày càng eo hẹp không tạo được sự quan tâm của cộng đồng với vấn đề dân số; thù lao cộng tác viên thấp làm giảm sự nhiệt tình của CTV và khó khăn cho  ngành.

Thời gian tới, Sở Y tế sẽ tham mưu đề xuất giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh trong thời gian qua và thời gian tới như: Chỉ đạo hệ thống dân số - KHHGĐ tích cực tham mưu lãnh đạo chính quyền địa phương bố trí nguồn lực cho công tác dân số - KHHGĐ, tập trung vào việc đưa vấn đề bình đẳng giới vào trường học phổ thông và trường chuyên nghiệp;

Đẩy mạnh giáo dục y đức và ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ y tế cung cấp dịch vụ liên quan đến hỗ trợ lựa chọn giới tính thai nhi, nhất là đảng viên, phải thực hiện theo Quy định 102 ngày 15/11/2017 của BCHTW Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, trong đó có quy định vi phạm chính sách dân số-KHHGĐ. Năm 2017, Sở Y tế đã triển khai ký cam kết thực hiện công tác dân số giữa thủ trưởng các đơn vị với Giám đốc Sở Y tế, giữa cán bộ thực hiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản-KHHGĐ với lãnh đạo đơn vị. Thời gian tới, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện các cam kết đã ký;

Thực hiện tốt kế hoạch Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020 và Chỉ thị 11/CT-UBND của UBND tỉnh Bắc Giang; tham mưu tốt công tác thi đua khen thưởng theo Nghị quyết 13/2013/NQ-HĐND về khen thưởng công tác dân số.

Đại biểu Nguyễn Văn Lực - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Hiệp Hòa. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

16h00': Đại biểu Nguyễn Văn Lực - đại biểu HĐND tỉnh khu vực huyện Hiệp Hòa chất vấn ông Trương Văn Nam - Chánh Thanh tra tỉnh về vấn đề phòng, chống tham nhũng (PCTN). Đại biểu nêu: Báo cáo công tác PCTN nhiều năm còn đánh giá chung chung, cơ bản giống nhau; thực tế cho thấy dư luận còn băn khoăn nhiều về nội dung, phương pháp, cách làm, hiệu quả của công tác PCTN; thực trạng biểu hiện tham nhũng trên địa bàn tỉnh thời gian qua vẫn diễn ra với mức độ, biểu hiện ngày càng phức tạp, đa dạng, xảy ra trên cả diện rộng và diện hẹp ở một số ngành, cấp, đơn vị, lĩnh vực,... khiến dư luận nhiều khi phải “chấp nhận tham nhũng” coi đó như một việc “đương nhiên " trong một số quan hệ xã hội. Với trách nhiệm là người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp UBND, Chủ tịch UBND tỉnh về công tác PCTN trên địa bàn, đề nghị Chánh Thanh tra tỉnh làm rõ vấn đề trên.

Ông Trương Văn Nam - Chánh Thanh tra tỉnh trả lời chất vấn. Ảnh: BGP/Hoàng Hà

Về vấn đề đại biểu Trần Văn Lực nêu, Chánh Thanh tra tỉnh công nhận biểu hiện thực trạng có phần đúng. Theo ông Trương Văn Nam, thứ nhất, công tác PCTN, được Đảng, Nhà nước, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đặc biệt quan tâm, xác định là việc làm thường xuyên của các cấp, các ngành và toàn xã hội; của mỗi cơ quan, đơn vị, từng cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân. Không có việc "chấp nhận tham nhũng". Tuy nhiên, công tác PCTN là việc làm rất khó, nó đòi hỏi có sự kết hợp đồng bộ của nhiều biện pháp phòng ngừa và chống tham nhũng của các cơ quan chức năng, của các ngành, các cấp và sự vào cuộc của toàn xã hội. Nó là nhiệm vụ “vừa cấp bách, vừa lâu dài”, đòi hỏi phải có sự chuyến biến từ nhận thức của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Công tác PCTN được tiến hành đồng bộ trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực và theo quy định thì báo cáo công tác PCTN là báo cáo kết quả hoạt động của tất cả các mặt, các lĩnh vực theo một mẫu chung, nên trong mỗi thời điểm khác nhau, kết quả có lĩnh vực có chuyển biến nhìn thấy rõ, có mặt, có lĩnh vực có thể không thấy rõ sự chuyển biến; bên cạnh đó còn có nguyên nhân do cách tổng hợp, đánh giá của một số ngành, lĩnh vực về công tác này không rõ ràng trong kết quả triển khai thực hiện, làm được nhưng không báo cáo được nên kết quả công tác PCTN hàng năm thể hiện trên báo cáo có thể có ít thông tin, không nhìn rõ kết quả.

Mặt khác, để triển khai thực hiện có hiệu quả từng giải pháp phòng ngừa đòi hỏi phải có sự cố gắng, nỗ lực của từng ngành, từng cấp. Hàng năm, UBND tỉnh đều đề ra các mục tiêu, giải pháp để triển khai thực hiện nhưng nếu việc tổ chức thực hiện không đạt hiệu quả như mong muốn thì năm sau vẫn phải tập trung chỉ đạo nhằm làm tốt nội dung đó.

Thứ hai, việc triển khai, thực hiện các giải pháp phòng ngừa và chống tham nhũng được quy định cụ thể trong Luật Phòng, chống tham nhũng. Thanh tra tỉnh, với trách nhiệm là cơ quan tham mưu giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về lĩnh vực này hàng năm đều tham mưu cho UBND, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp theo nội dung quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và đã đạt được một số kết quả tích cực.

Nếu xem xét từ khi triển khai thực hiện Luật PCTN năm 2005 và đặc biệt là từ năm 2010 đến nay thì công tác PCTN trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến rõ rệt thể hiện trên nhiều mặt như: Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về công tác này được nâng lên; vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu được quy định rõ ràng, cụ thể hơn;

Công tác cải cách hành chính có nhiều đổi mới theo hướng công khai, minh bạch hơn; các thủ tục hành chính được công khai, biểu mẫu hóa, số hóa; việc giải quyết các thủ tục hành chính được thông qua bộ phận một cửa, một cửa liên thông, một cửa liên thông điện tử; tại cấp tỉnh đã xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm hành chính công. Các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng đều được công khai, minh bạch từ khâu xây dựng chương trình, kế hoạch, quy hoạch đến kết quả hoạt động như: Tài chính, ngân sách, kế hoạch đầu tư, xây dựng, đất đai, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng CBCCVC và công tác cán bộ; hoạt động thanh tra, giải quyết KNTC và PCTN,...

Hoạt động của các cơ quan có chức năng chống tham nhũng như thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử được tiến hành công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật. Việc truy tố, xét xử các vụ án, vụ việc tham nhũng ngày càng đi vào thực chất hơn, ngày càng ít vụ án được xử án treo.

Tuy nhiên, Chánh Thanh tra tỉnh thừa nhận, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn có những tồn tại, hạn chế, yếu kém. Cụ thể là: Một số giải pháp phòng ngừa tham nhũng còn hình thức, không đem lại hiệu quả hoặc hiệu quả thấp (như trả lương qua tài khoản; quy định về nhận quà và nộp lại quà tặng; kê khai tài sản, thu nhập,...). Công tác đấu tranh PCTN, lãng phí còn thụ động, lúng túng, thiếu đồng bộ, quyết liệt. Kết quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, phát hiện và xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu đề ra.

Thứ ba, ngành Thanh tra tỉnh đã phối hợp với các ngành, các cấp, cơ quan liên quan tham mưu cấp ủy Đảng, chính quyền cùng cấp triển khai nhiều giải pháp quyết liệt, từ việc ban hành cơ chế, chính sách đến triển khai các giải pháp phòng ngừa và chống tham nhũng,... tuy nhiên kết quả vẫn chưa được như mong muốn. “Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra ở nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực với tính chất, mức độ ngày càng tinh vi, phức tạp hơn” như nhận định tại Nghị quyết số 109- NQ/TU ngày 04/7/2016 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và ý kiến của đại biểu HĐND tỉnh. "Với trách nhiệm là người đứng đầu cơ quan tham mưu giúp UBND, Chủ tịch UBND tỉnh về công tác PCTN, cá nhân tôi cũng ý thức được điều đó" - Ông Nam nói.

Chánh Thanh tra tỉnh cho rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên nhưng chủ yếu tập trung vào các nguyên nhân như: Sự chưa đồng bộ của hệ thống pháp luật của nhà nước, nhất là các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng chưa sát với thực tế; sự thiếu tích cực, kiên quyết của một số cấp chính quyền và sự suy thoái về đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự thỏa hiệp, tiếp tay của một số doanh nghiệp khi thông qua đó, họ có lợi ích đằng sau sự thỏa hiệp đó; sự vào cuộc thiếu tích cực, sự thờ ơ của một bộ phận cán bộ, đảng viên, người lao động tại các cơ quan, đơn vị; sự tiếp tay của một số ít quần chúng nhân dân với mong muốn được giải quyết quyền lợi và theo quy định của pháp luật thì quyền lợi đó không thuộc về họ,...

Đại biểu Đặng Hồng Chiến - đại biểu HĐND tỉnh khu vực TP Bắc Giang

Đại biểu Đặng Hồng Chiến - đại biểu HĐND tỉnh khu vực TP Bắc Giang chất vấn: Trong những năm gần đây, công tác thanh tra đã được tổ chức bài bản hơn, tích cực hơn, góp phần quan trọng vào công tác phòng, ngừa đấu tranh PCTN. Tuy nhiên, công tác này hiện nay đang còn nhiều tồn tại như: Việc xây dựng Kế hoạch thanh tra hằng năm chưa toàn diện; chất lượng nhiều cuộc thanh tra còn thấp; nhiều cuộc thanh tra còn vi phạm trình tự, thủ tục; một số kết luận sau thanh tra còn không rõ ràng, khó thực hiện; việc kiến nghị xử lý đối với tổ chức, cá nhân có sai phạm còn có biểu hiện nương nhẹ; tỷ lệ xử lý kỷ luật đối với cá nhân, tập thể có sai phạm sau thanh tra thấp; có cuộc thanh tra còn biểu hiện “đầu voi đuôi chuột", hoặc có tình trạng vi phạm xảy ra, qua thanh tra có xử lý, nhưng lại hợp thức hóa cho tồn tại. Dư luận băn khoăn liệu có tham nhũng, lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân trong một số cuộc thanh tra. Đề nghị Chánh Thanh tra tỉnh cho biết ý kiến của mình về các vấn để trên và trong thời gian tới ngành thanh tra làm gì để tham mưu cho UBND tỉnh khắc phục và ngăn chặn tình trạng trên

Về vấn đề đại biểu nêu, Chánh Thanh tra tỉnh thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, hạn chế nêu trên trong hoạt động của ngành thanh tra tỉnh là hoàn toàn chính xác. Đồng thời cho biết, cuối năm 2016, Thanh tra tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện hoạt động thanh tra KT-XH theo chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy; ngày 27/7/2017, Thanh tra tỉnh tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết 6 năm thi hành Luật Thanh tra theo chỉ đạo của Thanh tra Chính phủ. Tại các hội nghị này các tồn tại, hạn chế trên đã được chỉ ra và xác định do một số nguyên nhân chủ yếu như: Một số thủ trưởng cơ quan, đơn vị chưa thật sự quan tâm đến công tác thanh tra; chưa sâu sát, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo chấn chỉnh, khắc phục những yếu kém phát hiện sau thanh tra. Việc xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm của một số đơn vị chưa bám sát sự chỉ đạo và kế hoạch của của cấp trên; chưa làm tốt hoạt động khảo sát, nắm tình hình trước khi xây dựng kế hoạch nên một số cuộc thanh tra chất lượng không cao. Một số thủ trưởng cơ quan quản lý hành chính nhà nước; người ra quyết định thanh tra thiếu sát sao trong việc chỉ đạo, giám sát hoạt động đoàn thanh tra dẫn đến có cuộc thanh tra chưa đảm bảo về trình tự thủ tục, hiệu quả còn thấp; tinh thần trách nhiệm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận công chức làm công tác thanh tra còn hạn chế. Công tác phối hợp của các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc theo dõi, đôn đốc xử lý cán bộ có sai phạm phát hiện qua thanh tra chưa tốt, dẫn đến việc xem xét xử lý trách nhiệm còn chưa kịp thời, có vụ việc thực hiện chưa nghiêm túc. Công tác bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ, công tác thẩm định, giám sát các kết luận thanh tra của cấp dưới của Thanh tra tỉnh làm chưa tốt.

Với trách nhiệm là người đứng đầu ngành thanh tra tỉnh, ông Trương Văn Nam nghiêm túc nhận trách nhiệm về những thiếu sót, tồn tại của ngành và xin hứa sẽ chỉ đạo tập trung khắc phục trong thời gian tới.

Về vấn đề dư luận băn khoăn liệu có tham nhũng, lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân trong một số cuộc thanh tra, Chánh Thanh tra tỉnh cho biết đến thời điểm hiện tại, ngành thanh tra Bắc Giang chưa phát hiện trường hợp nào vì động cơ lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, tham nhũng... trong hoạt động thanh tra. Tuy nhiên, vấn đề băn khoăn của dư luận cũng chính là băn khoăn, trăn trở của ngành Thanh tra nói chung và của Thường trực Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Giang nói riêng.

Để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, PCTN trong thời gian tới, ông Trương Văn Nam nhấn mạnh một số giải pháp như: Triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 109-NQ/TU ngày 04/7/2016 của Tỉnh ủy về đẩy mạnh công tác PCTN, lãng phí. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo trực tiếp của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đối với công tác thanh tra; gắn hoạt động thanh tra với triển khai, thực hiện các giải pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý tham nhũng…

Tập trung chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, trong đó tập trung thực hiện tốt việc công khai minh bạch trong hoạt động của cơ quan, đơn vị như: xây dựng, thực hiện định mức tiêu chuẩn; thực hiện quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp; chuyển đổi vị trí công tác của CBCCVC; minh bạch tài sản thu nhập của CBCCVC và đẩy mạnh cải cách hành chính.

Có biện pháp để kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn hành vi lạm quyền, lộng quyền, nhũng nhiễu của CBCCVC của mình trong hoạt động chống tham nhũng. Người đứng đầu cơ quan thanh tra, điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải tăng cường quản lý CBCCVC; chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động chống tham nhũng.

Các cơ quan thanh tra phối hợp với cơ quan có liên quan tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác nắm bắt tình hình, phát hiện tham nhũng. Nâng cao chất lượng các cuộc thanh tra. Làm tốt công tác phối hợp với Ủy ban Kiểm tra cùng cấp trong việc xem xét, xử lý trách nhiệm các tập thể, cá nhân có sai phạm bị phát hiện qua thanh tra; phối hợp với các cơ quan tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc tiêu cực tham nhũng.

Thanh tra tỉnh tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ; ý thức tổ chức kỷ luật và phẩm chất đạo đức, văn hóa ứng xử cho đội ngũ công chức làm công tác thanh tra. Phát huy vai trò của cơ quan báo chí và nhân dân trong việc phát hiện, tố giác tham nhũng; tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí để góp phần nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, PCTN.

Nhóm phóng viên
Các tin bài khác:


  • map
3 7 Văn bản mới - chính sách mới C Đường dây nóng Danh ba dien tu Tra loi duong day nong