Chính trị
HĐND tỉnh Bắc Giang: Nhiều giải pháp phát triển kinh tế - xã hội
Số lần xem: 462            Ngày đăng: 10/07/2018

Tại phiên làm việc thứ 2 (ngày 10/7), kỳ họp thứ 5 HĐND tỉnh Bắc Giang, trong không khí thảo luận nghiêm túc, sôi nổi, thẳng thắn, đã có 10 đại biểu tham gia tại phiên thảo luận tại hội trường phân tích, đánh giá về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của tỉnh 6 tháng đầu năm; thảo luận mục tiêu, chỉ tiêu và đề xuất các giải pháp phát triển KT-XH năm 2018.

Ông Lưu Xuân Vượng - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Bắc Giang.

Tăng cường công tác quản lý đất đai, xử lý vi phạm

Tham luận về "Thực trạng và những vấn đề đặt ra hiện nay trong giải quyết các vấn đề vi phạm đất đai ở cơ sở và giải pháp trong thời gian tới”, ông Lưu Xuân Vượng - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết qua công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra và theo dõi cho thấy vi phạm đất đai chủ yếu, diễn ra phổ biến, đó là: Việc lấn chiếm đất sử dụng vào mục đích công cộng; tự chuyển mục đích sử dụng đất, xây dựng nhà trái phép trên đất nông nghiệp; xây dựng nhà trái phép trên đất nhận khoán thầu của thôn, xã; tự ý chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản; chính quyền cơ sở cấp, bán đất, giao thầu trái thẩm quyền, trái quy định với số lượng lớn; tự ý san lấp mặt bằng, trồng cây lâu năm trên đất nông nghiệp; tự ý san gạt mặt bằng, hạ thấp độ cao, xây dựng nhà trên đất lâm nghiệp, đặc biệt là đối với những khu vực tiếp giáp trục đường giao thông, đất đai có giá trị thương mại cao; việc để xảy ra vi phạm nhưng không kịp thời phát hiện, ngăn chặn hoặc phát hiện nhưng xử lý không nghiêm, không triệt để dẫn đến hậu quả khó giải quyết, phát sinh đơn thư, khiếu nại, khiếu kiện đất đai, gây bức xúc trong dư luận và quần chúng nhân dân; không đảm bảo công bằng giữa những người sử dụng đất.

Theo Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, để xảy ra tình trạng nêu trên là do cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý đất đai, vẫn còn tồn tại biểu hiện buông lỏng quản lý, né tránh, e ngại trong công tác xử lý vi phạm; chưa phát hiện kịp thời hoặc có phát hiện thì việc xử lý các vi phạm chưa triệt để, chưa quyết liệt hoặc xử lý chỉ mang tính hình thức, mới chỉ dừng lại ở việc lập biên bản vi phạm hành chính mà không có biện pháp ngăn chặn, xử lý dứt điểm, buộc người vi phạm trả lại tình trạng ban đầu của thửa đất. Do không được xử lý ngay từ thời điểm mới phát sinh nên hầu hết các trường hợp vi phạm đều phát hiện sau khi đã tiến hành xây dựng kiên cố các công trình hoặc đào ao nuôi trồng thủy sản, trồng cây lâu năm nên rất khó khắc phục về tình trạng ban đầu. Ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế, nhiều trường hợp cố tình vi phạm, nhiều trường hợp thấy người khác vi phạm nhưng không bị xử lý nên cũng vi phạm theo.

Vấn đề đặt ra hiện nay trong giải quyết các vấn đề vi phạm đất đai ở cơ sở là việc chấm dứt tình trạng giao đất trái thẩm quyền, việc lấn chiếm, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất, việc quản lý chặt chẽ đất công, việc nâng cao nhận thức pháp luật của người sử dụng đất và việc kiên quyết xử lý người đứng đầu cấp ủy, chính quyền để xảy ra những vi phạm về đất đai trên địa bàn được giao quản lý.

Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường đã đưa ra một số giải pháp. Đó là, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai đến mọi tầng lớp nhân dân, để người dân hiểu và chấp hành tốt chính sách pháp luật về đất đai.

Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đối với công tác quản lý đất đai và xử lý vi phạm hành chính về đất đai; rà soát lại hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, chỉnh sửa bổ sung cho phù hợp với quy định của pháp luật theo thẩm quyền hoặc kiến nghị chỉnh sửa, bổ sung theo quy định. Tập trung, huy động nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác đo đạc bản đồ địa chính tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai. Quản lý chặt chẽ đất công; các địa phương cần bố trí ngân sách để đầu tư cho công tác thống kê, rà soát, quản lý đất công, đất công ích; rà soát từng trường hợp đang sử dụng đất công ích và các hợp đồng cho thuê đất công ích của UBND cấp xã, các thôn và các tổ chức đoàn thể để xác định rõ vị trí, diện tích cho thuê, thời hạn sử dụng đất. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm liên quan đến công tác quản lý đất đai.

Quy hoạch giao thông vận tải chưa theo kịp sự phát triển

Tham luận về những khó khăn, bất cập trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh hiện nay, ông Bùi Thế Sơn - Giám đốc Sở Giao thông và Vận tải cho biết: Quy hoạch giao thông vận tải của tỉnh chưa đánh giá chính xác việc gia tăng mật độ giao thông đường bộ và tốc độ phát triển đô thị, khu, cụm công nghiệp và dịch vụ nên quy mô các tuyến đường nhỏ, chủ yếu là cấp III, IV chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại và tương lai. Công tác cắm mốc quy hoạch, quản lý hành lang đường bộ còn hạn chế ở hầu hết các địa phương. Quy hoạch đấu nối vào Quốc lộ gặp nhiều khó khăn do nhiều dự án đầu tư có điểm đấu nối vào quốc lộ không phù hợp với quy hoạch.

Ông Bùi Thế Sơn - Giám đốc Sở Giao thông vận tải Bắc Giang.

Nguồn lực thực hiện hạn chế dẫn đến nhiều mục tiêu quy hoạch chưa thực hiện được: Nhiều tuyến quốc lộ, đường tỉnh và cầu yếu, hẹp, tràn, cầu vượt chưa được nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới. Việc nâng cấp các tuyến đường huyện lên đường tỉnh, mở mới các tuyến đường tỉnh thực hiện còn hạn chế; khả năng kết nối giữa các loại hình giao thông nhằm phân bổ lại thị phần và nâng cao hiệu quả vận tải còn hạn chế. Thị phần đầu tư chưa cân đối, chủ yếu tập trung cho ngành đường bộ còn đầu tư đường sắt và đường thủy nội địa khó khăn do phụ thuộc nhiều vào trung ương.

Các đô thị cơ bản quy hoạch có hệ thống đường vành đai, tuy nhiên việc đầu tư xây dựng còn hạn chế. Công tác quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng GTVT gặp khó khăn do lưu lượng phương tiện gia tăng, tình trạng xe quá khổ, quá tải, lấn chiếm hành lang an toàn giao thông vẫn tiếp diễn phức tạp.

Theo ông Sơn, để đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, thời gian tới, ngành GTVT thực hiện điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển GTVT tỉnh Bắc Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 theo quyết định của UBND tỉnh. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Tăng cường quản lý công tác đầu tư, ưu tiên đầu tư một số công trình trọng yếu, tạo đột phá và thu hút đầu tư như: Hoàn thành cao tốc Bắc Giang - Lạng Sơn; mở rộng QL.37 (Việt Yên - Hiệp Hòa), QL.17, QL.31 (TP Bắc Giang - Chũ), ĐT 288, 292, 294, 398; Hoàn thành ĐT.293 và các tuyến nhánh vào Tây Yên Tử, Chùa Vĩnh Nghiêm... Đầu tư nâng cấp đường sắt đảm bảo nâng cao an toàn và tăng tốc độ lưu thông, trong đó chuyển ga Bắc Giang thành ga hành khách. Đầu tư xây dựng Cảng đường thủy nội địa, Trung tâm Logistics Quốc tế thành phố Bắc Giang, bến cảng, nhà ga, bến xe, trạm dừng nghỉ..., xây dựng các tuyến đường dẫn kết nối vận tải đường bộ, đường thủy và đường sắt. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, xử lý nghiêm tình trạng xe quá  khổ, quá tải, chống lấn chiếm hành lang ATGT, đảm bảo an toàn giao thông.

Làm tốt công tác quy hoạch, đảm bảo tính kết nối

Tham luận về “Thực trạng việc thực hiện Quy hoạch, Kế hoạch phát triển hạ tầng giao thông trên địa bàn, giải pháp trong thời gian tới ”, ông Lê Ô Pích - Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Việt Yên cho biết: Việt Yên là huyện cửa ngõ của tỉnh Bắc Giang; có các hệ thống giao thông thuận lợi, đa dạng, kết nối với các tỉnh trong vùng như QL1A, QL37; đường thủy sông Cầu; trục đường sắt Hà Nội - Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc, là địa bàn mở, gắn với phát triển của thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh. Mạng lưới giao thông tới thời điểm hiện tại của huyện cơ bản đáp ứng nhu cầu, phân bố đồng bộ, bao gồm đường bộ, đường sông và đường sắt. Đường bộ có tổng chiều dài gần 1.300 km, chiếm khoảng 13% tổng km đường bộ toàn tỉnh; đường huyện dài 62 km đã được nhựa hóa, bê tông hóa 100%, đường trục xã, liên xã: dài 123,5 km, đã cứng hóa đạt 82,3%...

Ông Lê Ô Pích - Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Việt Yên

Để đạt được kết quả như trên, Đảng bộ, chính quyền huyện Việt Yên đã xác định chủ trương "đi trước mở đường", đưa ra các giải pháp để phát triển giao thông vận tải đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH. Lập quy hoạch phát triển giao thông giai đoạn đến 2030; gắn hệ thống giao thông của xã, huyện với hệ thống giao thông của tỉnh và của quốc gia, các địa phương lân cận... khai thác tối đa các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ, ưu tiên cải tạo nâng cấp, mở mới các tuyến đường có động lực thúc đẩy phát triển kinh tế vùng...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, giao thông trên địa bàn còn một số các tồn tại hạn chế sau: Tình trạng quá tải tại các tuyến chính: QL37, ĐT 298, 295B vào giờ đi làm, tan tầm; hệ thống hạ tầng, các dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ trên địa bàn cũng như trong các khu công nghiệp còn thiếu; đường gom hai bên QL1 nhỏ và xuống cấp lâu ngày (đặc biệt khu vực KCN Quang Châu); tình  trạng vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn huyện diễn ra còn phức tạp, đặc biệt khu vực công nghiệp; công tác quản lý hành lang đường bộ đường bộ còn nhiều hạn chế...

Để GTVT của huyện Việt Yên ngày càng phát triển nhanh và bền vững, đại biểu Lê Ô Pích đề xuất một số giải pháp như: Làm tốt công tác quy hoạch, đảm bảo tính kết nối, tính định hướng tốt, phấn đấu đến năm 2020, hoàn thành 100% mục tiêu kế hoạch đề ra tại quy hoạch giao thông đến 2030 đã được phê duyệt.

Hoàn thành công tác đầu tư các tuyến đường trọng điểm đang triển khai, để sớm khắc phục tồn tại quá tải cho một số tuyến giao thông. Năm 2019, chú trọng tập trung phát triển về chiều sâu đối với giao thông đô thị để phát triển dịch vụ, phục vụ công nghiệp.

Thực hiện tốt các cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng đường giao thông nông thôn. Củng cố hoạt động vận tải, xây dựng vận tải, đáp ứng tốt nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa của huyện Việt Yên nói riêng và tỉnh Bắc Giang nói chung. Triển khai đồng bộ các giải đảm bảo trật tự ATGT, phấn đấu giảm TNGT trên cả ba tiêu chí...

Tập trung phát triển thương mại, dịch vụ

Trên cơ sở đánh giá những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh và những kết quả mang tính nền tảng đã đạt được và những tồn tại, hạn chế trong công tác phát triển thương mại và dịch vụ trên địa bàn thời gian qua, Giám đốc Sở Công Thương Trần Quang Tấn tham luận định hướng quan trọng về phát triển thương mại, dịch vụ trong thời gian tới.

Theo ông Tấn, trong những năm qua, hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh ngày càng được mở rộng, phát triển với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Hàng hóa đưa ra thị trường phong phú, đa dạng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống, góp phần ổn định giá cả thị trường, thúc đẩy sản xuất phát triển, giải quyết việc làm.

Ông Trần Quang Tấn - Giám đốc Sở Công Thương Bắc Giang

Đồng thời khẳng định, trong những năm tới, phát triển thương mại, dịch vụ cùng với công nghiệp sẽ tiếp tục là động lực chính đóng góp cho tăng trưởng trong phát triển KT-XH của tỉnh. Trong đó, phấn đấu đến năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ đạt 34.800 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 15,7%; kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng bình quân 40%/năm.

Để phát triển thương mại, dịch vụ trong thời gian tới, theo ông Tấn cần phải tập trung vào một số giải pháp:

Đó là, triển khai phát triển thương mại, dịch vụ bảo đảm tính đồng bộ và phù hợp với quy hoạch phát triển KT-XH của tỉnh. Trong đó, phát triển thương mại nội địa kết hợp các loại hình thương mại truyền thống và thương mại hiện đại, phù hợp với từng địa bàn đô thị, nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tập trung kêu gọi đầu tư xây dựng một số dự án có tính chất trọng tâm, trọng điểm, hỗ trợ tiêu thụ nông sản như: Chợ đầu mối, nhằm tăng khả năng tiếp cận giữa người bán và người mua, đẩy mạnh tiêu thụ nông sản một cách bền vững; sớm hoàn thành Trung tâm Logistics quốc tế thành phố Bắc Giang, nhằm hỗ trợ tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa. Tiếp tục rà soát, dành quỹ đất cho xây dựng mạng lưới chợ, từng bước xóa bỏ chợ tạm, nâng cấp, chỉnh trang xây dựng các chợ trung tâm huyện, thành phố.

Tạo điều kiện phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp như tư vấn xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược sản phẩm, ứng dụng khoa học công nghệ; tư vấn xây dựng, quản lý và quảng bá thương hiệu, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế…

Khuyến khích khu vực doanh nghiệp FDI, các tập đoàn phân phối lớn liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước xây dựng và phát triển hệ thống phân phối hiện đại, từ đó tăng cường khả năng mở rộng thị trường ra thế giới cho các hàng hóa và dịch vụ có lợi thế của tỉnh. Tiếp tục đổi mới, sáng tạo trong xúc tiến thương mại; hỗ trợ nâng cao năng lực cho doanh nghiệp, HTX về nghiên cứu thị trường; phát triển hệ thống phân phối hàng nông sản; tham gia hội chợ hàng nông sản cấp vùng và cấp miền, các hội nghị kết nối cung cầu hàng hóa, hỗ trợ tuyên truyền, quảng bá hàng nông sản của tỉnh trên các phương tiện truyền thông…

Đẩy mạnh phát triển các loại hình kinh doanh như khuyến khích, hỗ trợ hoạt động thương mại, dịch vụ theo mô hình HTX, doanh nghiệp; mô hình chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thúc đẩy hình thành các nhà phân phối chuyên nghiệp; hình thành hệ thống bán buôn, bán lẻ, phân bố hài hòa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân; đẩy mạnh liên kết sản xuất - thương mại. Triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về sản phẩm và năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp và dự báo nhu cầu ở một số thị trường xuất khẩu trọng điểm đối với những sản phẩm xuất khẩu chủ lực, mũi nhọn trên địa bàn tỉnh.

Phát triển thương mại - dịch vụ đưa thành phố trở thành điểm đến hấp dẫn

Trước thực trạng hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn thành phố còn gặp những khó khăn, nhất là nhiều doanh nghiệp còn hạn chế trong quản lý, điều hành; thiếu những dự án có quy mô lớn mang tính đột phá, ứng dụng công nghệ cao; giá thành sản phẩm còn cao, mẫu mã, chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ chưa hấp dẫn; hạ tầng phát triển dịch vụ chất lượng cao ở một số mặt chậm được hình thành và phát triển, ông Mai Sơn - Chủ tịch UBND TP Bắc Giang đã đưa ra định hướng phát triển thương mại, dịch vụ thành phố trong thời gian tới.

Theo ông Mai Sơn, để sớm hình thành và phát triển dịch vụ Logistics, tỉnh cần yêu cầu nhà đầu tư tập trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng, kho bãi Logistic quốc tế TP Bắc Giang. Sau khi hoàn thành, đây sẽ là Trung tâm đầu mối, phân phối, trung chuyển hàng hóa, mua sắm của các hướng từ tỉnh Lạng Sơn về thủ đô Hà Nội, các cảng biển thuộc tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng và ngược lại. Đi đôi với đó, cần tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư; đào tạo nguồn nhân lực… phục vụ cho phát triển dịch vụ Logistic.

Ông Mai Sơn - Chủ tịch UBND thành phố Bắc Giang

Cùng với việc phát triển mạnh các loại hình dịch vụ hiện có, cần đặc biệt quan tâm thu hút đầu tư hình thành những dịch vụ mới, cao cấp nhằm đưa thành phố trở thành điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư, chuyên gia, người lao động trong và ngoài nước.

Để phát triển dịch vụ phục vụ người nước ngoài; là điểm dừng, nghỉ của khách Trung Quốc đi du lịch đường bộ vào Việt Nam, cũng như là nơi nghỉ dưỡng cuối tuần của khách Hà Nội và địa phương lân cận..., theo ông Mai Sơn, các ngành chức năng cùng với thành phố cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư hạ tầng đô thị; đồng thời, đôn đốc nhà đầu tư sớm hoàn thành những dự án phục vụ phát triển dịch vụ lưu trú có quy mô lớn từ 4 - 5 sao đã được chấp thuận đầu tư như: Tổ hợp khu thương mại dịch vụ và khách sạn cao cấp, quy mô 19 tầng tại thuộc Khu đô thị phía Nam thành phố; căn hộ chung cư cao cấp kết hợp căn hộ khách sạn tại đường Nguyễn Văn Cừ, quy mô 27 tầng; đồng thời, thu hút đầu tư dự án khách sạn 5 sao mang đặc trưng văn hóa của một số quốc gia để phục vụ lưu trú, giải trí cao cấp chủ yếu cho người nước ngoài...

Quan tâm làm tốt công tác cải cách hành chính, tuyên truyền, quảng bá hình ảnh thành phố và tỉnh, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Có kế hoạch đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Tiếp tục tập trung đẩy mạnh cải cách TTHC

Tham luận về công tác cải cách hành chính (CCHC), ông Bùi Ngọc Sơn - Giám đốc Sở Nội vụ cho biết, công tác CCHC của tỉnh thời gian qua đã đạt nhiều kết quả. Cơ cấu, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện theo mô  hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực ngày càng phát huy hiệu quả. Các văn bản chỉ đạo, điều hành được lãnh đạo các cấp ban hành kịp thời. Tập trung cải cách thủ tục hành chính (TTHC), thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông gắn với ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai tại hầu hết các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Việc rà soát, đồng bộ TTHC theo hướng gọn nhẹ, đơn giản, minh bạch đã tạo thuận lợi, giảm chi phí, tiết kiệm thời gian cho người dân, doanh nghiệp.

Đặc biệt, việc đưa Trung tâm Hành chính công tỉnh vào hoạt động là một bước tiến quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa nền hành chính nhà nước, góp phần tạo dựng môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi cho doanh nghiệp, nâng cao mức độ hài lòng của nhân dân đối với chính quyền.

Ông Bùi Ngọc Sơn - Giám đốc Sở Nội vụ Bắc Giang

Những kết quả đạt được trong công tác CCHC trong thời gian qua đã góp phần cải thiện, nâng cao các Chỉ số của tỉnh, như: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Bắc Giang năm 2017 xếp thứ 30/63 tỉnh, thành phố; Chỉ số CCHC của tỉnh năm 2016, 2017 xếp hạng 13/63 tỉnh, thành phố trong cả nước; Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước nằm trong 5/63 tỉnh, thành phố có điểm số cao nhất...

Bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua, công tác CCHC của tỉnh còn những hạn chế, tồn tại, bất cập như: Sự quan tâm của lãnh đạo một số cơ quan, địa phương về công tác CCHC chưa đầy đủ và chưa quyết liệt. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn nhiều bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp. Còn có tình trạng cán bộ, công chức, viên chức thiếu trách nhiệm, gây phiền hà, sách nhiễu trong việc giải quyết các TTHC.

Hiện đại hóa hành chính, nhất là đối với hạ tầng ứng dụng công nghệ thông tin được thực hiện chưa đồng bộ. Một số cơ quan ngành dọc Trung ương đóng tại địa phương chưa đưa việc giải quyết TTHC thuộc lĩnh vực quản lý ra thực hiện tiếp nhận và trả kết quả tại bộ phận một cửa cấp huyện. Các chỉ số như: Par-index, PAPI, PCI đã được cải thiện thứ hạng trong những năm qua nhưng chưa ổn định.

Nhằm thực hiện hiệu quả công tác CCHC, thời gian tới cần tăng cường công tác phổ biến, quán triệt, tuyên truyền để  nâng cao hơn nữa về nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức các cấp, các ngành về tầm quan trọng của công tác CCHC. Tiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp trên địa bàn tỉnh.

Tiếp tục tập trung đẩy mạnh cải cách TTHC trên cơ sở chỉ  đạo thực hiện tốt cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước. Kịp thời chấn chỉnh những thiếu sót trong quy định các quy trình, các bước, các thủ tục hồ sơ không còn phù hợp với quy định  hiện hành. Thực hiện công khai, minh bạch và cung cấp thông tin đầy đủ cho người dân, doanh nghiệp về  nội dung quy định, quy trình, hướng dẫn thực hiện TTHC theo quy định.

Thường xuyên chỉ đạo các cấp, các ngành tổ chức rà soát, kiến nghị HĐND, UBND tỉnh điều chỉnh, loại bỏ các cơ chế, chính sách thiếu tính khả thi, không phù hợp. Tăng cường đối thoại với tổ  chức, công dân và doanh nghiệp để  kịp thời nắm bắt, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về quy định hành chính.

Thực hiện sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhất là cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các cấp, các ngành, các đơn vị sự nghiệp công theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả gắn với việc tinh giản biên chế. Tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính

Trình bày tham luận về công tác ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ hoạt động cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh thời gian qua và phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Trần Minh Chiêu khẳng định: Thời gian qua, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, triển khai xây dựng hạ tầng CNTT,… phục vụ hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp giải quyết các TTHC nhanh chóng, thuận tiện, tiết kiệm, đảm bảo công khai minh bạch, tạo điều kiện để giám sát việc thực thi công vụ của cơ quan nhà nước…

Tuy nhiên, ông Chiêu cũng thừa nhận việc triển khai hướng dẫn của Trung ương, xây dựng, ban hành các nội quy quy định, cơ chế chính sách thúc đẩy ứng dụng CNTT còn chậm, hạn chế. Có cơ quan, đơn vị chưa tích cực triển khai ứng dụng CNTT. Hạ tầng phục vụ xây dựng Chính phủ điện tử còn thiếu và yếu, chưa đạt tiêu chuẩn, thiếu đồng bộ, hệ thống bảo mật kém, không bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.

Ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước chưa liên kết thành một hệ thống, dữ liệu không được chia sẻ và khai thác chung; chưa hình thành được Cổng thông tin điện tử thống nhất và duy nhất để cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Việc đầu tư cho ứng dụng CNTT chưa có tính đồng bộ, một số phần mềm ứng dụng không kết nối được với nhau...

Ông Trần Minh Chiêu - Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Bắc Giang

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nói trên, thời gian tới, Sở Sở Thông tin và Truyền thông sẽ tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo tập trung xây dựng hoàn thiện hạ tầng CNTT.

Tiếp tục duy trì, cập nhật Khung kiến trúc Chính quyền điện tử của tỉnh. Đầu tư xây dựng hệ thống phần mềm nền tảng kết nối và mạng trục dịch vụ của tỉnh Bắc Giang (LGSP). Thực hiện chuẩn hóa hệ thống phần mềm quản lý văn bản và điều hành công việc đang sử dụng hiện nay thành 01 phần mềm duy nhất trong toàn tỉnh và liên thông 4 cấp.

Chuẩn hóa hệ thống phần mềm một cửa điện tử trên địa bàn tỉnh để thực hiện tích hợp, liên thông hệ thống phần mềm một cửa điện tử theo 3 cấp phục vụ giải quyết TTHC liên thông 3 cấp tỉnh - huyện - xã. Xây dựng, nâng cấp Cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh thành một hệ thống tập trung, duy nhất và xây dựng Cổng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của tỉnh đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định để nâng cao công tác phục vụ tổ chức, công dân nộp hồ sơ trực tuyến, giải quyết TTHC trên môi trường mạng.

Đảm bảo an toàn, an ninh thông tin mạng trong các cơ quan nhà nước. Tăng cường sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử để gửi, nhận văn bản điện tử trong các cơ quan nhà nước. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT. Trong đó, tập trung đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ chuyên trách CNTT các cấp, các ngành để đảm bảo vận hành, quản trị tốt các hệ thống ứng dụng CNTT của cấp mình, ngành mình.

Nâng cao chất lượng công tác theo dõi thi hành pháp luật

Tham luận về “Công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”, ông Đặng Văn Nguyên - Giám đốc Sở Tư pháp cho biết, thời gian qua, Sở Tư pháp đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm triển khai kịp thời, hiệu quả công tác này trên địa bàn.

Hằng năm, Sở Tư pháp đã phổ biến, tuyên truyền các văn bản pháp luật liên quan về công tác theo dõi thi hành pháp luật đến các cơ quan, tổ chức và người dân; tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác theo dõi thi hành pháp luật và thực hiện tốt vai trò là cơ quan đầu mối giúp UBND tỉnh tổng hợp danh sách cử công chức của các sở, ngành, địa phương tham gia các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu do Bộ Tư pháp tổ chức.

Ngoài việc tuyên truyền, phổ biến, tập huấn nghiệp vụ thì Sở Tư pháp cũng thực hiện việc kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật thường xuyên. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra còn được tiến hành trực tiếp thông qua các buổi làm việc với địa phương, đơn vị. Việc đôn đốc, theo dõi và kiểm tra công tác xây dựng Kế hoạch, triển khai tổ chức thực hiện Kế hoạch và công tác báo cáo được Sở Tư pháp coi là tiêu chí trực tiếp để đánh giá, xếp loại Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và tổ chức pháp chế ở các sở, ngành.       

Ông Đặng Văn Nguyên - Giám đốc Sở Tư pháp Bắc Giang

Có thể nói, công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian qua đã được Sở Tư pháp tham mưu UBND tỉnh triển khai nghiêm túc, bài bản, sáng tạo và đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh vẫn còn những khó khăn, tồn tại, hạn chế. Đó là, việc tổ chức triển khai thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật tại một số huyện và nhất là các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh còn chưa thực sự được quan tâm; Phòng Tư pháp các huyện, thành phố và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh chưa bố trí cán bộ chuyên trách thực hiện công tác này; chất lượng công tác theo dõi thi hành pháp luật còn hạn chế, nhất là tại các địa phương, việc tổ chức theo dõi thi hành pháp luật còn mang tính hình thức, chưa mang lại hiệu quả thiết thực...

Để hoạt động theo dõi thi hành pháp luật trong thời gian tới ngày càng đi vào nền nếp, hiệu quả và ngày càng phát huy vai trò hơn nữa trong thời gian tới, ông Nguyên đề nghị HĐND tỉnh và HĐND cấp huyện, cấp xã tiếp tục quan tâm bố trí kinh phí cho công tác theo dõi thi hành pháp luật; Văn phòng HĐND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh tích cực phối hợp với Sở Tư pháp trong công tác theo dõi thi hành pháp luật. Trong đó chú trọng đến việc ban hành cơ chế phối hợp trong việc cung cấp thông tin giữa hoạt động giám sát của HĐND tỉnh với hoạt động theo dõi thi hành pháp luật.

Chủ tịch UBND các huyện, thành phố và Thủ trưởng các sở, ngành trên địa bàn tỉnh quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật ở ngành, lĩnh vực, địa phương phụ trách của mình. Hằng năm, chủ động ban hành kế hoạch và tổ chức theo dõi thi hành pháp luật tại địa phương, lĩnh vực do mình phụ trách. Phối hợp chặt chẽ với Sở Tư pháp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, theo dõi của các Đoàn liên ngành do Chủ tịch UBND tỉnh thành lập.

MTTQ tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội... tích cực tham gia và phối hợp cung cấp thông tin trong quá trình thực hiện chức năng giám sát, phản biện của mình đến Sở Tư pháp là cơ quan chủ trì, đầu mối giúp UBND tỉnh thực hiện nhiệm vụ này trên địa bàn.

Quan tâm giải quyết những khó khăn vùng dân tộc thiểu số

Theo ông Nguyễn Hồng Luân - Trưởng Ban Dân tộc tỉnh, mặc dù trong điều kiện khó khăn, những năm qua Đảng, Nhà nước cấp ủy chính quyền tỉnh vẫn ưu tiên dành nguồn lực đáng kể đầu tư hỗ trợ cho vùng dân tộc thiểu số (DTTS) thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân, hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, chính sách ưu đãi về tín dụng cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, các chính sách về y tế giáo dục, chính sách đặc thù của tỉnh.

Kết quả, diện mạo nông thôn vùng DTTS của tỉnh có nhiều chuyển biến, kết cấu hạ tầng được tăng cường đầu tư xây dựng, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, chất lượng cuộc sống được nâng lên. Tỷ lệ hộ nghèo của xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc giảm trung bình mỗi năm từ 3-4%, nhiều xã giảm trên 6%, không còn hộ đói.

Tuy nhiên do điểm xuất phát thấp, địa bàn vùng DTTS có điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao 35,96%, tỷ lệ hộ nghèo 40 xã đặc biệt khó khăn 39,58%... Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, các dân tộc chưa được thu hẹp. Kết cấu hạ tầng tuy được đầu tư song vẫn còn thiếu, giao thông đi lại đến các thôn bản khó khăn. Tình trạng thiếu đất sản xuất, nước sinh hoạt vùng DTTS còn lớn; nhận thức pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật ở một bộ phận người DTTS còn hạn chế.

Ông Nguyễn Hồng Luân - Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Bắc Giang

Để tiếp tục thực hiện tốt các chính sách đối với vùng DTTS trong thời gian tới, Ban Dân tộc đề nghị cần tiếp tục tập trung các nguồn lực trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo với phương châm "tăng cho vay, giảm cho không" khắc phục tình trạng trông chờ ỷ lại, khơi dậy tính sáng tạo, không cam chịu đói nghèo. Đẩy mạnh đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thu hoạch, chế biến; phát huy tiềm năng lợi thế miền núi để sản xuất hàng hóa.

Quan tâm và giải quyết những khó khăn của vùng DTTS, nhất là thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng bức bách về giao thông, ngầm cống qua đường, đường tránh lũ, trơn trượt, ách tắc trong mùa mưa lũ, các công trình thủy lợi, hồ đập, điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt của người dân.

Thực hiện các chính sách văn hóa bảo tồn gìn giữ và phát triển các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của đồng bào DTTS, nếp sống văn minh, tiết kiệm. Đổi mới công tác tuyên truyền vân động trong vùng đồng bào DTTS, chú trọng tuyên truyền kiến thức về pháp luật, nắm chắc tình hình, giải quyết tốt vấn đề an ninh chính trị, tranh chấp đất đai, khiếu kiện đông người.

Cấp ủy Đảng, chính quyền, các cấp thường xuyên quan tâm công tác dân tộc. Coi trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ người DTTS trong các cơ quan hệ thống chính trị hợp lý theo quy định, nhằm thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về công tác dân tộc.

Đổi mới, tăng cường công tác dân vận

Trên cơ sở phân tích thực trạng về những vướng mắc, phát sinh trong công tác giải phóng mặt bằng khi triển khai các dự án trên địa bàn tỉnh, bà Nguyễn Thị Kim Dung - Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy nhận định: Nguyên nhân chủ yếu là do công tác dân vận chưa được chú trọng đúng mức.

Bà Nguyễn Thị Kim Dung - Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Bắc Giang

Bà Dung đề xuất, để công tác dân vận phát huy hiệu quả trong việc tháo gỡ những nút thắt trong công tác hỗ trợ, bồi thường giải phóng mặt bằng thời gian tới.

Đó là, cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng trong công tác thu hồi, bồi thường, tái định cư. Các tổ chức trong hệ thống chính trị cần vào cuộc quyết liệt, đồng bộ để thực hiện có hiệu quả chủ trương thu hồi đất, bồi thường, tái định cư từ khi triển khai dự án đến khi hoàn thành; có phối hợp chặt chẽ, thống nhất, nhịp nhàng, thường xuyên, liên tục giữa chính quyền với hệ thống dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và của tỉnh trong thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng, từng hoàn cảnh, thời điểm cụ thể; phải phân loại đối tượng tuyên truyền, vận động, trong đó chú trọng đến những người có uy tín để tranh thủ sự ủng hộ tối đa, làm cơ sở cho việc tuyên truyền, vận động.

Phát huy dân chủ trong việc thực hiện giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất, coi đó là điểm tựa, là động lực để huy động sức mạnh của cộng đồng dân cư thực hiện tốt công tác đền bù, giải tỏa, bàn giao mặt bằng để xây dựng các công trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội.

Tăng cường nắm bắt tình hình nhân dân trong vùng có đất bị thu hồi để có biện pháp giải quyết thỏa đáng, dứt điểm, phòng ngừa và ngăn chặn phát sinh “điểm nóng” nhằm hạn chế đơn thư khiếu nại, tố cáo. Cần phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cấp, các ngành từ tỉnh đến cơ sở, không đùn đẩy trách nhiệm, gây phiền hà trong nhân dân.

Sau mỗi dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư hoàn thành phải tổ chức họp đánh giá, tổng kết, chỉ ra những cách làm hay, sáng tạo; làm rõ những tồn tại, hạn chế để rút kinh nghiệm; nhân rộng, biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực này./.

Nhóm PV
Các tin bài khác:


  • map
3 7 Văn bản mới - chính sách mới C Đường dây nóng Danh ba dien tu 10 thanh tuu noi bat