Chính trị
Bước tiến mới sau nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
Số lần xem: 456            Ngày đăng: 12/09/2018

Hôm nay (12/9), tại Trung tâm Hội nghị tỉnh diễn ra hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVIII. Nhân dịp này, Cổng TTĐT tỉnh Bắc Giang trân trọng giới thiệu bài viết "Bước tiến mới sau nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang" của đồng chí Bùi Văn Hải - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh (tháng 10-2015) và Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm giai đoạn 2015-2020 đến nay đã được nửa nhiệm kỳ. Đánh giá những gì đã đạt được cũng như chưa được để rút ra bài học kinh nghiệm cho thời gian còn lại đến năm 2020 là một yêu cầu mà Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đặt ra ngay từ khi triển khai Nghị quyết Đại hội. 

Nhìn lại nửa nhiệm kỳ qua, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi đan xen với không ít khó khăn, thách thức song kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân Bắc Giang đã nỗ lực vươn lên, bám sát và chủ động thực hiện quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội XVIII đã đề ra và thu được những thành tựu quan trọng. 

Bí thư Tỉnh ủy Bùi Văn Hải và đoàn công tác của tỉnh thăm khu điều hành
Nhà máy nước sạch DNP- Bắc Giang (Lạng Giang). Ảnh: Thành Nam

Những kết quả nổi bật

Quy mô nền kinh tế toàn tỉnh (theo giá hiện hành) tăng 1,63 lần, từ 55.000 tỷ đồng đầu nhiệm kỳ lên gần 90.000 tỷ đồng nhờ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hằng năm, bình quân đạt trên 13%/năm, vượt xa so với mục tiêu Đại hội là 10-11%/năm và dự kiến tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt trên 15%. Với kết quả đó, Bắc Giang là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất cả nước. Kinh tế toàn tỉnh tăng cao và tăng trưởng khá đồng bộ ở cả 3 khu vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, trong đó công nghiệp có mức tăng trưởng rất mạnh bình quân đạt xấp xỉ 24%/năm, cao hơn nhiều so với thời gian trước đó. 

Đây là kết quả tích tụ thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp trong nhiều năm qua, đặc biệt các năm gần đây; tính riêng từ năm 2016 đến nay, toàn tỉnh đã thu hút 553 dự án đầu tư với số vốn đăng ký gần 3,9 tỷ USD (bằng cả giai đoạn trước đó cộng lại). Tỉnh Bắc Giang đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài. Tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tăng nhanh với nhiều dự án đầu tư có trình độ công nghệ cao và giá trị đầu tư lớn. 

Ước hết năm 2018, cơ cấu công nghiệp - xây dựng trong tỉnh nâng lên 51,1%, vượt cao so với mục tiêu Đại hội đề ra đến năm 2020 là 42-43%. Công nghiệp phát triển nhanh không chỉ tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà cả cơ cấu lao động, tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp đã giảm từ 56% đầu nhiệm kỳ xuống còn 42% năm 2018. Các khu, cụm công nghiệp đã thu hút, tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 200.000 người, giải quyết cơ bản tình trạng thiếu việc làm của người lao động trong độ tuổi, nhất là khu vực nông thôn.

Cùng với phát triển công nghiệp, nông nghiệp Bắc Giang phát triển đa dạng cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Tư duy sản xuất nông nghiệp có đổi mới; ruộng đồng được dồn đổi tập trung và quy hoạch lại để hình thành vùng sản xuất hàng hóa, các mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ theo chuỗi giá trị, có sự tham gia của doanh nghiệp và hợp tác xã. 

Với những nỗ lực ấy, Bắc Giang tiếp tục duy trì tổng đàn lợn 1,1 triệu con đứng thứ 3, đàn gà hơn 15 triệu con đứng thứ 4, vùng trồng cây ăn quả lớn thứ 3 và vùng trồng vải thiều chuyên canh lớn nhất cả nước. Xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, xếp thứ 2 trong 15 tỉnh miền núi phía Bắc; ước đến hết năm 2018 toàn tỉnh có 89 xã đạt chuẩn nông thôn mới (chiếm 43,6% tổng số xã), huyện Việt Yên về đích nông thôn mới và thành phố Bắc Giang hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. 

Cùng với lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực dịch vụ có bước phát triển mới. Các ngành dịch vụ như kinh doanh bán lẻ, dịch vụ vận tải, dịch vụ tài chính, tín dụng ngân hàng,... đều tăng cao. Giá trị xuất khẩu năm 2018 ước đạt 8 tỷ USD, gấp hơn 3 lần năm 2015, tăng trưởng bình quân khoảng 30%/năm; đặc biệt, vải thiều Bắc Giang đã có mặt ở gần 30 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Nguồn vốn huy động, tín dụng ngân hàng tăng mạnh và đạt cao nhất trong các năm gần đây; đến tháng 6-2018, huy động đạt 43.346 tỷ đồng, tăng 76,8% và dư nợ tín dụng đạt 43.873 tỷ đồng tăng 66,5% so với 31-12-2015. Hệ thống cung ứng điện, nước cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển; mạng lưới viễn thông, truyền hình,... phủ kín địa bàn các xã, thôn trong tỉnh. Du lịch Bắc Giang lần đầu tạo bước ngoặt mới về sự phát triển và đang mở ra hướng đi rất khả quan trong những năm tới. 

Thực hiện Nghị quyết số 113-NQ/TU ngày 22-7-2016 của Tỉnh ủy về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2030, UBND tỉnh và các địa phương đã tập trung ưu tiên nguồn lực và chính sách để đầu tư hạ tầng giao thông và mang lại kết quả rất quan trọng. Các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ đã và đang chuẩn bị đầu tư mở rộng như: Cao tốc Bắc Giang - Hà Nội, Bắc Giang - Lạng Sơn, các tuyến quốc lộ 17, 31, 37, các tuyến tỉnh lộ 289, 292, 293, 294, 295, đường vành đai IV (Hà Nội) qua địa phận tỉnh Bắc Giang và các tuyến nhánh. Thực hiện chủ trương xã hội hóa giao thông nông thôn theo tinh thần Kết luận số 43-KL/TU ngày 11-5-2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trong hơn một năm qua, phong trào cứng hóa giao thông nông thôn triển khai rất mạnh mẽ ở các địa phương với mục tiêu đến hết năm 2019 sẽ đạt hơn 2.000 km. Mục tiêu phấn đấu của tỉnh đến năm 2020 toàn bộ hệ thống giao thông trong tỉnh sẽ được nâng cấp đồng bộ đạt tiêu chuẩn theo quy định.

Huyện Việt Yên đã về đích nông thôn mới. Ảnh: Đường hoa thôn Chàng, xã Việt Tiến (Việt Yên).
Ảnh Thế Đại

Tỉnh ủy đã bám sát tinh thần Nghị quyết Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh về tập trung phát triển toàn diện hệ thống giáo dục, y tế và xã hội. Nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về giáo dục đã được chỉ đạo triển khai như tăng nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất các trường học, sắp xếp tinh gọn hệ thống mạng lưới trường học để bảo đảm quy mô và chất lượng, bố trí đủ cơ cấu giáo viên đứng lớp và các chính sách cho giáo viên mầm non. Các trường học tăng cường nâng cao chất lượng toàn diện, trong đó chú trọng giáo dục đạo đức cho học sinh, dạy ngoại ngữ và tin học. Hệ thống y tế được tập trung triển khai theo 4 trọng tâm: Nâng cấp cơ sở vật chất bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện, đẩy mạnh công tác y tế dự phòng và an toàn thực phẩm, nâng cao năng lực phục vụ của y tế tuyến xã, nâng cao năng lực hoạt động tự chủ của các bệnh viện nhằm tăng cường chất lượng và thái độ phục vụ của đội ngũ nhân viên y tế. 

Những nỗ lực tập trung trong mấy năm qua đã khắc phục cơ bản những yếu kém kéo dài của các cơ sở y tế và đem lại sự hài lòng nhiều hơn của nhân dân. Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đã tăng từ 73% năm 2015 lên 97,3% năm 2018 và là một trong những tỉnh có tỷ lệ người dân tham gia BHYT cao nhất cả nước. Nhiều bệnh hiểm nghèo đã được cứu chữa nhờ vào kỹ thuật mới và chất lượng phục vụ của các bệnh viện.

Đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh cả vật chất và tinh thần thường xuyên có những cải thiện tích cực. Các chủ trương, chính sách chăm lo cho người có công, đồng bào dân tộc, người dân miền núi và người nghèo nói chung được quan tâm. Chương trình nhà ở cho người có công đã và đang được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh, phấn đấu hết năm 2019 không còn gia đình người có công phải ở nhà tạm. Các gia đình có hoàn cảnh đặc biệt neo đơn, khó khăn được Nhà nước và các tổ chức xã hội chăm lo, giúp đỡ. Đời sống hộ nghèo được cải thiện đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 13% năm 2015 xuống còn 7,5% năm 2018. Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao ngày càng phát triển đa dạng và phong phú; các di sản văn hóa, thiết chế văn hóa không ngừng được tôn tạo, củng cố và phát triển.

Nhiệm vụ xây dựng và củng cố quốc phòng, quân sự địa phương luôn được cấp ủy, chính quyền trong tỉnh tập trung lãnh đạo toàn diện trên các phương diện như xây dựng Đảng, củng cố các khu vực phòng thủ, các căn cứ chiến đấu, công tác huấn luyện và tuyển quân bảo đảm sẵn sàng trong mọi tình huống. Kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. An ninh, an toàn không ngừng được tăng cường, trong đó đã tập trung cao vào các biện pháp phòng ngừa đấu tranh chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, triệt phá kịp thời nhiều tội phạm nguy hiểm, nhiều ổ nhóm cờ bạc, ma túy phức tạp... Sự phối hợp chặt chẽ giữa công tác lãnh đạo của cấp ủy, chỉ đạo của chính quyền, phong trào quần chúng và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương.

Công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính quyền, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến cơ sở luôn được Tỉnh ủy và các cấp ủy trong Đảng bộ tỉnh tập trung lãnh đạo. Tổ chức bộ máy và cán bộ các cơ quan đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn. 

Chuyển mạnh đơn vị sự nghiệp công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ hoàn toàn hoặc tự chủ một phần nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả. Xử lý kiên quyết việc tinh giản biên chế trong các cơ quan nhà nước. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận tiện và công khai, minh bạch. Cơ chế một cửa và một cửa liên thông được triển khai tích cực từ tỉnh đến cơ sở, được nhân dân, doanh nghiệp hoan nghênh.

Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra trong tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội được tiến hành thường xuyên và kiên quyết. Do đó đã có tác động mạnh mẽ đến trách nhiệm và tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức.

Các cấp ủy đã tăng cường các giải pháp quản lý cán bộ các cấp từ khâu tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo và sử dụng, bố trí cán bộ. Công tác đấu tranh chống tiêu cực trong quản lý cán bộ đã có hiệu lực và hiệu quả, nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã được kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm. Do đó, tình hình tham nhũng, tiêu cực, nhất là trong một số lĩnh vực phức tạp như đất đai, tài chính, ngân sách, xây dựng cơ bản, chính sách xã hội,... đã được ngăn chặn.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền đã có nhiều chuyển biến tích cực, đã tập trung vào các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, các vấn đề bức xúc nổi cộm; những ý kiến, kiến nghị của nhân dân được quan tâm xem xét, trả lời và xử lý.

Bài học kinh nghiệm

Bên cạnh những thành công nửa nhiệm qua là rất tích cực song so với yêu cầu thì còn nhiều mặt, nhiều việc tồn tại, hạn chế và yếu kém. Quy mô, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Thu hút đầu tư ngoài ngân sách đạt kết quả tốt nhưng tiến độ giải ngân còn chậm. Đa số doanh nghiệp của tỉnh quy mô nhỏ, năng lực tài chính và trình độ quản lý thấp. Sản xuất nông nghiệp chủ yếu vẫn nhỏ lẻ và phân tán. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội địa phương còn thiếu và chưa đồng bộ. 

Công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị, đất đai, trật tự an toàn giao thông dù có cố gắng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác giải phóng mặt bằng, giữ gìn môi trường đô thị và nông thôn còn không ít khó khăn. Chất lượng giáo dục, y tế trên một số mặt chưa cao, đời sống văn hóa cơ sở và văn minh đô thị có mặt còn yếu kém; mức sống của một bộ phận công nhân và đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp. Tội phạm trộm cắp, đánh bạc, cố ý gây thương tích, giết người do nguyên nhân xã hội, tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; tai nạn giao thông trên địa bàn còn ở mức cao nhưng chưa có giải pháp khắc phục hiệu quả. 

Trong khi đó, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng, tinh thần tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt cấp ủy ở một số nơi còn hạn chế; tính gương mẫu trong thực thi nhiệm vụ của một số cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa cao; tính chủ động, sự phối hợp trong tham mưu, đề xuất tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp chưa tốt; còn có cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; công tác vận động quần chúng có nơi, có việc chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số hoạt động của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể còn hình thức; việc nắm tình hình nhân dân của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đối với một số vụ việc phức tạp phát sinh ở cơ sở chưa kịp thời.

Tại Siêu thị BigC Thăng Long (Hà Nội) trưng bày, giới thiệu nhiều nông sản đặc trưng của tỉnh Bắc Giang.
Ảnh tư liệu

Từ thực tiễn sau hơn hai năm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh rút ra một số kinh nghiệm là: Phải bám sát thực tiễn tình hình để cụ thể hóa các kế hoạch, chính sách theo các mục tiêu, chủ trương của Trung ương và của Nghị quyết Đại hội; mọi chủ trương phải gắn với kế hoạch cụ thể, chính sách cụ thể, giải pháp điều hành cụ thể. Phải thống nhất ý chí và hành động từ cấp ủy đến chính quyền và các đoàn thể, từ tỉnh đến cơ sở, trên cơ sở đó vận động, cổ vũ nhân dân đồng thuận, thi đua thực hiện. Lãnh đạo cấp ủy, chính quyền, nhất là cán bộ chủ chốt, người đứng đầu phải sâu sát, quyết tâm, gương mẫu đi đầu.

Tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, phấn đấu hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội

Nửa nhiệm kỳ còn lại từ nay đến năm 2020 còn nhiều việc phải làm, làm với quyết tâm cao hơn, nỗ lực lớn hơn để hoàn thành toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XVIII của Đảng bộ tỉnh từ nay đến năm 2020, tập trung vào:
1. Tiếp tục ưu tiên phát triển công nghiệp. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch và xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển công nghiệp địa phương đến năm 2030. Tập trung mở rộng không gian phát triển công nghiệp, xây dựng các khu, cụm công nghiệp mới; chủ động chuẩn bị tốt điều kiện về hạ tầng, nhất là đất đai. Thu hút đầu tư có chọn lọc các ngành nghề, dự án có công nghệ và giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, sử dụng ít lao động, trọng tâm là điện tử, chế tạo, chế biến…

2. Phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện theo hướng hình thành các vùng sản xuất tập trung, trọng tâm là vùng trồng cây ăn quả, vùng rau thực phẩm, vùng chăn nuôi… gắn với lợi thế so sánh của địa phương để có sự đầu tư thỏa đáng. Hướng mạnh sản xuất ứng dụng công nghệ cao, theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP gắn với chế biến và tiêu thụ, hình thành các hợp tác xã, các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp có sự liên kết chặt chẽ, tạo ra các sản phẩm cạnh tranh đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. 

Tiếp tục đẩy mạnh trồng rừng kinh tế, quản lý chặt chẽ rừng phòng hộ, gắn với nâng cao đời sống người làm nghề rừng và bảo vệ môi trường sinh thái. Rà soát, ban hành các cơ chế khuyến khích sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản, các chính sách hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp nông nghiệp. Thực hiện xây dựng nông thôn mới bền vững và phát huy vai trò chủ thể của người dân.

3. Đẩy mạnh đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông. Tiếp tục đa dạng các hình thức đầu tư, kết hợp các nguồn vốn để mở rộng các quốc lộ, các tỉnh lộ và phát triển giao thông nông thôn. Quy hoạch, xây dựng mới một số tuyến đường, bến cảng kết nối giữa các khu công nghiệp và khu đô thị. Phát triển nhanh hạ tầng đô thị và mở rộng không gian đô thị trên cơ sở sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã.

4. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa - xã hội, nhất là giáo dục và y tế. Rà soát quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường lớp học hợp lý, ưu tiên phát triển trường lớp tại các đô thị, khu, cụm công nghiệp; giải quyết căn bản những khó khăn của giáo dục về giáo viên và lớp học; nghiên cứu, cải tiến chương trình giáo dục phổ thông và đẩy mạnh việc dạy, học tiếng Anh, tin học trong các nhà trường gắn với nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và mũi nhọn. 

Tiếp tục đầu tư, nâng cấp bệnh viện tuyến tỉnh, cả đa khoa và chuyên khoa và tăng cường nhân lực y tế các cấp; củng cố hệ thống y tế dự phòng, y tế tuyến xã; đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho các cơ sở y tế công lập; phát triển và quản lý chặt chẽ hệ thống y dược tư nhân; nâng tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân lên 98% vào năm 2020. Gắn kết chặt chẽ, đồng bộ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh ở cơ sở; tiếp tục phát triển thể thao toàn diện, cả thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao. Thực hiện kịp thời, đầy đủ các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách đối với người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi, phụ nữ và trẻ em và giải quyết các vấn đề xã hội cho công nhân.

5. Tăng cường củng cố quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh vững chắc, xây dựng bộ đội chính quy vững mạnh, lực lượng tự vệ rộng khắp. Tiếp tục tập trung cao cho công tác bảo đảm an ninh, trật tự; chủ động nắm chắc tình hình, tấn công, trấn áp tội phạm, xóa các tụ điểm phức tạp về tệ nạn xã hội, kiểm soát trật tự an toàn giao thông. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bổ trợ tư pháp, gắn với thực hiện các chủ trương về cải cách tư pháp. Giải quyết kịp thời các vấn đề bức xúc xã hội, các vụ việc khiếu nại, tố cáo.

6. Tăng cường xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị. Tập trung củng cố, sắp xếp tổ chức bộ máy, biên chế trong hệ thống chính trị tinh gọn; thực hiện quyết liệt chủ trương đổi mới, giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Đẩy mạnh cải cách hành chính và siết chặt kỷ cương công vụ. Chỉnh đốn Đảng nghiêm minh và toàn diện, kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đổi mới và nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chuẩn bị một bước cho đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; củng cố khối đại đoàn kết, mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với dân./. 

Theo baobacgiang.com.vn
Các tin bài khác:


  • map
3 7 Văn bản mới - chính sách mới C Đường dây nóng Danh ba dien tu 10 thanh tuu noi bat